Bà nói tôi sinh ra đã có số ăn bát cơm này.
“Đôi mắt của con hữu dụng hơn đôi mắt mù của bà gấp trăm lần.”
Cuộc sống cứ thế trôi qua.
Nghèo thì có nghèo, nhưng yên ổn.
Cho đến năm tôi mười ba tuổi, có một người phụ nữ tìm đến sạp của chúng tôi.
Người phụ nữ ấy khoảng hơn ba mươi tuổi, mặc một chiếc áo bông đỏ đã cũ, tóc tai rối bời, dưới mắt có quầng thâm rõ rệt.
Cô ta vừa ngồi xuống trước mặt bà đã bật khóc, chưa nói một câu nào.
Bà không cử động.
Một lúc lâu sau, người phụ nữ ấy mới mở miệng:
“Bác ơi, con tôi mất tích ba ngày rồi. Bác giúp tôi xem thử còn tìm được không.”
Bà im lặng rất lâu.
Bà nắm lấy tay tôi, đầu ngón tay lạnh buốt.
“Con bé Vũ, con xem tay cô ấy đi.”
Tôi ngẩng đầu nhìn người phụ nữ kia.
Cô ta chủ động chìa tay ra, lòng bàn tay ngửa lên, các ngón tay run rẩy.
Tôi nhìn đường chỉ tay của cô ta.
Sau đó, tôi cảm giác như có thứ gì đó lạnh từ sau gáy chạy dọc xuống sống lưng.
Bà bóp mạnh cổ tay tôi dưới gầm bàn.
Đó là tín hiệu không được nói.
Tôi lập tức ngậm chặt miệng.
Sau đó, người phụ nữ ấy rời đi.
Tối hôm đó, bà ôm tôi ngồi trên giường, hạ giọng hỏi:
“Con nhìn thấy gì?”
“Trên tay cô ấy có đường máu. Không phải máu của người khác.”
Bà nhẹ nhàng vỗ sau đầu tôi.
“Nhớ kỹ, chuyện như thế này không được nói. Một khi nói ra, dính vào rồi sẽ không thể phủi sạch.”
Ba ngày sau, người ta vớt được một chiếc bao tải dệt bằng nhựa dưới sông của thị trấn.
Bên trong là một bé trai năm tuổi.
Người phụ nữ ấy đã treo cổ trong nhà mình.
Người trong thị trấn đều nói cô ta đau khổ vì mất con, nghĩ quẩn nên mới làm vậy.
Chỉ có tôi biết sự thật.
Đó là lần đầu tiên tôi thật sự sợ đôi mắt của chính mình.
Cũng từ sau lần ấy, mỗi khi xem chỉ tay cho người khác, tôi đã biết chuyện gì nên nói, chuyện gì không nên nói.
Bà sống đến năm tôi mười tám tuổi.
Ngày bà ra đi vừa đúng tiết Đại Hàn.
Bà ngồi trong gian chính, tay nắm chặt một nắm tiền đồng, nói với tôi câu cuối cùng:
“Con bé, sau này con phải tự đi một mình. Đừng chạm vào chuyện lớn, đừng dính dáng đến người có quyền thế. Trong mệnh con có một kiếp nạn, vượt qua được là ổn.”
Sau đó, bà nhắm mắt lại, không bao giờ mở ra nữa.
Tôi chôn bà dưới gốc cây hòe già ở phía đông thị trấn.
Không bia, không tên.
Khi còn sống, người trong thị trấn gọi bà là Chu mù. Chết rồi cũng chẳng có ai nhớ bà họ gì.
Nhưng tôi nhớ.
Bà là người thân duy nhất của tôi trên đời này.
Ngày hôm sau khi chôn cất bà, tôi thu dọn ống quẻ và tấm vải xanh của bà rồi lại ra bày sạp.
Địa điểm đã đổi, từ thị trấn chuyển lên huyện.
Tháng Chạp năm 1998, tôi mười tám tuổi, một mình ngồi xổm trên mặt đất tại khu chợ cổng Đông của huyện Nam Hà. Trước mặt trải một tấm vải xanh, trên đó viết bốn chữ:
“Xem chỉ tay, năm tệ.”
02
Huyện thành không giống thị trấn.
Người đến chợ phiên trong thị trấn đều là dân các làng gần đó, chất phác, thật thà và tin vào những chuyện này.
Trong huyện có rất nhiều người khôn lỏi. Người có tiền coi thường sạp bói toán năm tệ bên đường, người không có tiền lại không nỡ bỏ ra.
Ba ngày đầu tiên, tôi không có một vị khách nào.
Khi tôi ngồi xổm tại sạp gặm bánh màn thầu, người chị bán tất bên cạnh liếc tôi:
“Cô bé, tuổi cô mà làm nghề này thì không lừa được người ta đâu. Về nhà tìm việc khác mà làm đi.”
Tôi không để ý đến chị ấy.
Ngày thứ tư, một người đàn ông trung niên tới.
Quần lao động, giày cao su màu vàng, trong kẽ móng tay còn dính dầu máy không thể rửa sạch. Ông ấy là công nhân nhà máy.
Những năm ấy, doanh nghiệp nhà nước cải tổ. Nhà máy phân bón và nhà máy dệt trong huyện lần lượt đóng cửa, người thất nghiệp nhiều từng nhóm từng nhóm.
Ông ấy ngồi xổm trước mặt tôi, do dự hồi lâu rồi vẫn lấy ra năm tệ.
“Xem giúp tôi đi, gần đây vận may của tôi không tốt.”
Tôi cầm lấy tay ông ấy.
Đường chỉ tay thô ráp, những lớp chai chồng lên nhau.
Tôi nhìn rất lâu.
“Không phải vận may của ông không tốt.”
“Vậy là gì?”
“Ông đang do dự về một chuyện.”
Ánh mắt ông ấy khẽ thay đổi.
“Chuyện gì?”
“Ông muốn hợp tác làm ăn với người khác. Đối phương có nguồn hàng, còn ông bỏ công sức.”
Sắc mặt ông ấy thay đổi:
“Sao cô biết?”
Tôi chỉ vào một đường trong lòng bàn tay ông ấy:
“Đây là đường sự nghiệp. Ở giữa xuất hiện nhánh rẽ, chứng tỏ có cơ hội hợp tác. Nhưng ông nhìn chỗ này đi—”
Tôi chỉ vào một vùng đường vân dưới gốc ngón trỏ.
“Vị trí này đại diện cho độ đáng tin của đối tác. Chỗ này của ông hơi tối, chứng tỏ đối phương không hoàn toàn đáng tin.”
Khi rời đi, vẻ mặt người đàn ông ấy rất phức tạp.
Một tuần sau, ông ấy lại tới.
Lần này ông không ngồi xuống, chỉ đứng trước mặt tôi nói:
“Cô bé, cô nói đúng. Người kia ôm tiền bỏ trốn rồi, may mà tôi chưa đầu tư quá nhiều.”
Ông ấy ném mười tệ xuống tấm vải xanh.
“Năm tệ thừa coi như cảm ơn cô.”
Thứ gọi là danh tiếng lan truyền cực kỳ nhanh trong chợ.
Chưa đầy một tháng, trước sạp của tôi đã bắt đầu có người xếp hàng.
Đủ loại người đều tới. Người trung niên thất nghiệp hỏi đường sống, cô gái trẻ hỏi nhân duyên, người làm ăn hỏi tài vận.

Để lại một bình luận