Danh mục: Chưa phân loại

  • Hàng xóm treo 4 cục nóng điều hòa lấn hết tường nhà tôi, 1 tháng sau ông ta khóc lóc van xin tháo giùm….

    Hàng xóm treo 4 cục nóng điều hòa lấn hết tường nhà tôi, 1 tháng sau ông ta khóc lóc van xin tháo giùm….

    Hàng xóm treo 4 cục nóng điều hòa lấn hết tường nhà tôi, 1 tháng sau ông ta khóc lóc van xin tháo giùm….

    Tôi mở toang cửa sổ phòng ngủ tầng hai và suýt hụt hơi vì luồng khí nóng hầm hập phả thẳng vào mặt. Bốn cục nóng điều hòa cỡ đại đang treo lủng lẳng ngay trong khe thoáng chỉ cách cửa sổ nhà tôi chưa đầy hai gang tay. Tiếng quạt gầm rú, hơi nóng phả ra như lò luyện kim. Đêm đầu tiên ở căn nhà mới của chính mình, tôi không tài nào chợp mắt nổi.

    Mười năm cày cuốc, nhịn ăn nhịn tiêu, vay mượn bố mẹ ở quê, cuối cùng tôi cũng sở hữu được căn nhà ống ba tầng ở quận Đống Đa. Không còn cảnh thuê phòng trọ ẩm mốc, bị chủ nhà tăng giá đột ngột. Tôi tưởng rằng từ nay cuộc sống sẽ yên bình. Nhưng chỉ sau 15 phút nằm trên giường mới, tiếng ù ù rung rinh đã truyền qua tường khiến tôi tỉnh hẳn.

    Sáng hôm sau, tôi vẫn cố giữ thái độ hòa nhã. Mang theo giỏ trái cây nhập khẩu gần năm trăm nghìn, tôi sang nhà ông Hải – hàng xóm sát vách. Ông ta trạc sáu mươi, dáng người đậm, bụng phệ, mặc áo may ô cũ kỹ. Tôi cười tươi, đưa giỏ quà: “Cháu chào bác. Cháu mới dọn đến, mong bác xóm giềng giúp đỡ.”

    Ông Hải nhìn tôi từ đầu đến chân bằng ánh mắt dò xét, không thèm nhận quà mà hất hàm: “Có việc gì thì nói luôn đi.”

    Tôi giữ giọng bình tĩnh: “Đêm qua cháu thấy bốn cục nóng điều hòa nhà bác treo sát khe thoáng, hơi nóng và tiếng ồn làm cháu không ngủ được. Bác có thể di chuyển chúng lên sân thượng hoặc ra mặt tiền giúp cháu không ạ?”

    Mặt ông Hải biến sắc ngay lập tức. Ông ta xua tay quát: “Cậu mới đến đã chỉ đạo tao à? Khe thoáng đó bao năm nay vẫn trống, tao treo nhờ tí thì sao? Không ngủ được thì bán nhà đi!”

    Cánh cửa nhôm kính đóng sầm trước mặt tôi. Giỏ hoa quả trên tay trở nên nặng trĩu và vô duyên. Lòng tôi lúc đó chỉ còn lại sự lạnh lùng. Tôi hiểu rõ: với loại người này, nói lý lẽ là vô ích.

    Tôi không cãi vã, không làm ầm ĩ. Tôi lặng lẽ hành động.

    Tôi thuê đơn vị đo đạc, bắn laser xác định chính xác ranh giới. Sau đó gọi đội thợ xây dựng và kỹ thuật viên cách âm. Yêu cầu của tôi rất rõ: xây một bức tường kín hoàn toàn khe thoáng, nằm sát mép ranh giới đất nhà tôi, với 10 lớp bông khoáng cách âm chịu nhiệt cao. Tổng chi phí gần 30 triệu đồng. Nhưng tôi sẵn sàng trả giá để bảo vệ giấc ngủ và quyền lợi của mình.

    Công trình khởi công. Tiếng máy trộn vữa, máy cắt sắt vang vọng cả ngõ. Ông Hải phát hiện thì nổi trận lôi đình, xịt nước phá hoại, chửi bới om sòm. Tôi chỉ im lặng quay video, lắp camera an ninh, và cảnh báo rõ ràng: “Bác xịt nước hỏng một viên gạch của tôi, tôi sẽ kiện bác tội phá hoại tài sản.”

    Ông ta đành xẹp xuống.

    Bức tường hoàn thành. Nó đứng sừng sững, chặn hoàn toàn luồng gió tản nhiệt của bốn cục nóng. Bên trong phòng ngủ nhà tôi giờ đây yên tĩnh tuyệt đối. Còn bên kia tường, bốn cục nóng nhà ông Hải bắt đầu gặp rắc rối……

    Khi đợt nắng nóng 40 độ C ập đến, mọi thứ bùng nổ. Khí nóng từ bốn cục nóng không thoát được, dội ngược lại chính thân máy. Chỉ sau vài giờ chạy, hệ thống quá nhiệt. Hai máy tầng dưới cháy lốc hoàn toàn. Hai máy tầng trên vỡ tụ, dạn ống đồng. Khoản tiền thay thế gần 20 triệu bay theo gió.

    Căn nhà ống cũ kỹ của ông Hải biến thành lò nung. Cả gia đình sáu người không ngủ nổi, mồ hôi nhễ nhại, trẻ con sốt cao, vợ chồng cãi nhau om sòm. Ông Hải gọi thợ thay máy mới, lắp thêm quạt hút mạnh, nhưng vô ích. Bức tường cách âm của tôi như một cái bẫy nhiệt hoàn hảo. Hai máy mới thay lại tiếp tục hỏng chỉ sau vài ngày.

    Áp lực kinh tế và gia đình dồn nén khiến ông Hải không còn đường lui. Một buổi chiều oi bức, ông và bà vợ đứng trước cổng nhà tôi, tay xách giỏ hoa quả đắt tiền. Ông ta cúi đầu, giọng run run: “Cháu Nam ơi… bác sai rồi. Bác xin lỗi vì đã bắt nạt cháu. Bác sẽ tự bỏ tiền tháo hết máy lên sân thượng. Cháu thương tình đập bớt tường cho nhà bác thở với…”

    Tôi nhìn ông ta – người từng hống hách, chửi bới, xịt nước phá hoại – giờ đây khép nép van xin. Lòng tôi không vui mừng đắc thắng, chỉ thấy một nỗi day dứt lạ lùng. Cuộc sống hàng xóm vốn nên êm đềm, vậy mà vì lòng tham và sự ích kỷ, mọi thứ phải đi đến bước này.

    Tôi nhận giỏ quà, gật đầu: “Bác di dời máy xong, cháu sẽ cho đập tường. Tiền đập tường cháu tự lo.”

    Hôm sau, đội thợ kéo đến tháo dỡ. Bốn cục nóng được đưa lên sân thượng. Khoảng khe thoáng trở lại thông thoáng. Tôi gọi thợ đập bỏ bức tường cách âm. Không gian giữa hai nhà lại như xưa, nhưng mọi thứ đã khác.

    Từ đó, ông Hải thay đổi hoàn toàn. Mỗi lần gặp tôi ngoài ngõ, ông đều chủ động chào hỏi, giọng nhẹ nhàng. Không còn cái nhìn khinh miệt, không còn sự hống hách. Bài học 50 triệu đồng và những đêm nóng bức đã khắc sâu vào ông một điều: đừng bao giờ coi thường quyền lợi của người khác, dù họ là người mới đến.

    Còn tôi, mỗi đêm nằm trong căn phòng yên tĩnh, tôi vẫn nhớ cái đêm đầu tiên mở cửa sổ và thấy bốn cục nóng chĩa thẳng vào mặt. Cuộc sống ở Hà Nội dạy tôi rằng, đôi khi im lặng và kiên quyết mới là cách mạnh mẽ nhất để bảo vệ bản thân. Không cần cãi vã ầm ĩ, chỉ cần làm đúng luật pháp và giữ vững lập trường.

    Giờ đây, hai nhà sống bên nhau trong sự tôn trọng. Nhưng tôi biết, nếu một ngày nào đó ai đó lại thử thách giới hạn của tôi, tôi vẫn sẽ lặng lẽ xây lên một bức tường – không phải bằng gạch và bông khoáng, mà bằng sự kiên định không thể lay chuyển.

  • L//y hôn ôm con chưa biết đi đâu thì chị dâu gọi: ‘Về đây chị chia đất, xây nhà cho hai mẹ con ở’”…ngày nhà chồng tới đòi con chị dâu bản lĩnh làm đúng 1 việc khiến họ không bao giờ dám bén mảng tới nữa

    L//y hôn ôm con chưa biết đi đâu thì chị dâu gọi: ‘Về đây chị chia đất, xây nhà cho hai mẹ con ở’”…ngày nhà chồng tới đòi con chị dâu bản lĩnh làm đúng 1 việc khiến họ không bao giờ dám bén mảng tới nữa…

    Ngày tôi ký vào tờ đơn l//y hôn cũng là ngày trong túi chỉ còn hơn ba triệu đồng.

    Tay bế con gái mới hơn h//ai tuổi, tay kéo chiếc vali cũ, tôi đứng trước cổng tòa án mà không biết phải đi đâu. Trời cuối chiều đổ mưa lất phất, con bé ôm cổ tôi hỏi ngây thơ:

    – Mẹ ơi, mình về nhà nào?

    Tôi nghẹn đến không nói nên lời.

    Nhà chồng không còn là nơi dành cho mẹ con tôi. Căn hộ vợ chồng từng góp tiền mua đứng tên chồng nên sau ly hôn, anh ta chỉ đưa cho tôi ít tiền rồi bảo:

    – Em tự lo cuộc sống của mình đi.

    Còn nhà bố mẹ đẻ…

    Tôi không còn bố mẹ để về nữa.

    Bố mất vì TN khi tôi học năm nhất đại học. Hai năm sau, mẹ cũng qua đời vì bạ//o bệnh. Từ đó, anh trai vừa làm cha, vừa làm mẹ, vừa lo cho tôi học hết đại học rồi mới cưới vợ.

    May mắn lớn nhất của cuộc đời tôi là anh lấy được một người vợ tử tế.

    Từ ngày chị Hạnh về làm dâu, căn nhà vốn chỉ có hai anh em tôi chưa bao giờ thiếu tiếng cười. Chị chưa từng phân biệt tôi là em chồng. Quần áo chị mua luôn có phần tôi. Món gì ngon chị cũng để dành. Thậm chí ngày tôi lấy chồng, chị còn lén nhét vào vali của tôi một cuốn sổ tiết kiệm hai trăm triệu đồng.

    Chị cười:

    – Của hồi môn chị tặng em gái.

    Tôi từng nghĩ mình sẽ không bao giờ phải làm phiền anh chị nữa.

    Thế mà…

    Đúng lúc tôi đứng ch//ết lặng giữa cơn mưa, điện thoại reo.

    Là chị dâu.

    – Em đang ở đâu?

    Nghe giọng chị, nước mắt tôi vỡ òa.

    – Em… em chưa biết đi đâu cả.

    Đầu dây bên kia im lặng vài giây rồi chị nói dứt khoát:

    – Về nhà đi.

    – Nhưng…

    – Không nhưng gì hết. Nhà này vẫn là nhà của em.

    Tôi nghẹn ngào:

    – Em sợ làm phiền anh chị.

    Chị cười:

    – Phiền gì? Bố mẹ m//ất sớm, nhà mình chỉ còn hai anh em. Chị lấy anh em thì cũng xem em là em gái. Mau về đi, anh em đang ra đón.

    Tối hôm đó, vừa nhìn thấy tôi bế con bước xuống xe, anh trai chạy lại ôm lấy cháu ngoại… à không, ôm lấy cháu gái rồi khẽ nói:

    – Về rồi thì không ai được b/ắt n/ạt em nữa.

    Tôi khóc như một đứa trẻ.

    Những ngày sau, anh chị không hề nhắc đến chuyện ly hôn. Họ chỉ âm thầm chăm sóc hai mẹ con tôi.

    Ba tháng sau, khi tôi vừa xin được việc làm mới thì chị Hạnh bất ngờ trải bản vẽ lên bàn.

    – Em xem đi.

    Tôi ngơ ngác.

    – Cái gì vậy chị?

    – Bản thiết kế nhà.

    Tôi cười:

    – Đẹp quá.

    Chị chỉ tay ra mảnh vườn phía sau.

    – Chị với anh bàn rồi. Mảnh đất sau nhà rộng gần bốn trăm mét vuông. Chị sẽ tách một nửa cho em.

    Tôi tưởng mình nghe nhầm.

    – Chị… chị nói gì cơ?

    – Chia đất cho em. Xây một căn nhà nhỏ để hai mẹ con ở lâu dài.

    Tôi hoảng hốt lắc đầu.

    – Không được đâu chị. Đó là tài sản của anh chị.

    Anh trai đặt chén trà xuống.

    – Đất này vốn của bố mẹ để lại. Khi còn sống, bố từng dặn anh phải chăm em. Giờ em không còn nơi nào để về thì đây chính là nhà em.

    Tôi òa khóc.

    – Em không thể nhận…

    Chị Hạnh nắm lấy tay tôi.

    – Không phải cho. Đây là chia lại phần của em. Chị chỉ thay bố mẹ làm điều nên làm thôi.

    Một năm sau, căn nhà nhỏ hoàn thành.

    Không lớn, không sang trọng, nhưng là mái ấm đầu tiên sau những ngày giông bão.

    Con gái tôi có phòng riêng, có khoảng sân nhỏ để chạy nhảy. Chiều nào bé cũng lon ton sang nhà bác gọi:

    – Mẹ Hạnh ơi, con sang ăn cơm nhé!

    Tiếng cười trẻ con khiến cả khu vườn lúc nào cũng ấm áp.

    Tôi cứ nghĩ cuộc sống bình yên sẽ kéo dài mãi.

    Cho đến một sáng cuối tuần…

    Ba chiếc ô tô bất ngờ dừng trước cổng.

    Mẹ chồng cũ cùng chồng cũ và vài người họ hàng bước xuống.

    Bà chỉ thẳng vào con gái tôi.

    – Hôm nay chúng tôi đến đón cháu nội về.

    Tôi ôm chặt con.

    – Theo quyết định của tòa, con ở với tôi.

    Mẹ chồng cũ cười nhạt.

    – Quyết định thì quyết định. Cháu mang họ nhà tôi. Chúng tôi muốn gặp là gặp.

    Chồng cũ tiến thêm một bước.

    – Nếu cô không giao con thì đừng trách.

    Tôi run lên vì sợ.

    Đúng lúc ấy, cánh cổng bên cạnh mở ra.

    Chị Hạnh bước ra, trên tay cầm tập hồ sơ màu xanh.

    Chị bình tĩnh đặt tập giấy lên nắp xe của họ rồi nói rõ ràng.

    Chị bình tĩnh đặt tập giấy lên nắp xe của họ rồi nói rõ ràng từng câu từng chữ, vang lên đanh thép giữa khoảng sân:

    “Các người nhìn cho kỹ đi. Đây là Biên bản cam kết từ chối quyền nuôi dưỡng và chu cấp có chữ ký, dấu vân tay của Trần Mặc tại tòa án một năm trước để đổi lấy việc không phải chia tài sản chung. Và quan trọng hơn, đây là Hồ sơ khởi kiện đòi nợ do văn phòng luật sư của tôi vừa lập xong.”

    Cả nhà chồng cũ ngơ ngác nhìn nhau. Trần Mặc sắc mặt biến đổi, lắp bắp: “Nợ… nợ gì cơ? Tôi nợ cô cái gì?”

    Chị Hạnh khoanh tay trước ngực, nở một nụ cười nửa miệng đầy lạnh lùng:

    “Cậu quên rồi à? Một năm trước, khi ly hôn, cậu tính toán từng đồng, ép em gái tôi ra đi tay trắng, thậm chí tiền chu cấp cho con cậu cũng tìm cách trốn tránh. Nhưng cậu lại quên mất một điều: 200 triệu tiền hồi môn ngày cưới là do cá nhân tôi đứng tên sổ tiết kiệm cho em gái mượn tạm để làm ăn, sau đó cậu đã tự ý rút ra để đầu tư thua lỗ. Thêm vào đó, suốt 3 năm làm dâu, những khoản tiền gia đình tôi cho hai vợ chồng vay mua xe, sửa nhà đều có giấy biên nhận chuyển khoản rõ ràng từ tài khoản của tôi.”

    Chị Hạnh tiến lên một bước, ánh mắt sắc lẹm nhìn thẳng vào bà mẹ chồng cũ đang tái mét mặt:

    “Tổng cộng cả gốc lẫn lãi tính đến ngày hôm nay là 540 triệu đồng. Tôi đã định nể tình nghĩa cũ mà cho các người khất. Nhưng hôm nay các người đã vác cả họ đến đây định dùng luật rừng để cướp cháu, thì tôi cũng xin dùng luật pháp để nói chuyện. Nếu trong vòng 3 ngày tới, số tiền này không được chuyển trả vào tài khoản của tôi, đơn khởi kiện này sẽ lập tức được gửi lên tòa án nhân dân quận. Với chứng cứ rành rành thế này, tôi đảm bảo con trai bà không chỉ bị phong tỏa tài sản, mà cái ghế phó phòng anh ta vừa leo lên được cũng bay màu theo đơn tố cáo đạo đức gửi đến cơ quan!”

    Bà mẹ chồng cũ nghe đến hai từ “tòa án” và ảnh hưởng đến sự nghiệp của con trai thì hoảng hốt, quay sang túm áo Trần Mặc: “Mặc… chuyện này là thế nào? Sao con lại nợ nhiều tiền thế?”

    Trần Mặc mặt cắt không còn giọt máu, anh ta thừa biết chị dâu tôi là một nữ doanh nhân có tiếng, nói được làm được, mối quan hệ lại rộng. Nếu chị làm thật, anh ta coi như tiêu tùng. Anh ta lắp bắp: “Chị Hạnh… chị… chị bình tĩnh. Chuyện gia đình, có gì mình đóng cửa bảo nhau…”

    “Gia đình nào ở đây?” – Anh trai tôi từ trong nhà bước ra, đứng sừng sững bên cạnh chị Hạnh, tay cầm chiếc điện thoại đang ở chế độ ghi âm. “Vừa rồi các người đe dọa, ép buộc đòi cướp người trái luật, tôi đã ghi âm và quay camera an ninh toàn bộ. Bây giờ, một là các người tự lên xe cút khỏi đây và từ nay về sau cấm bén mảng đến khu này, hai là tôi gọi công an phường vào lập biên bản hành vi gây rối trật tự và bắt người trái phép. Chọn đi!”

    Mấy người họ hàng đi cùng thấy tình hình không ổn, vội vàng giục giã: “Thôi bà ơi, người ta có lý có luật thế này, dây vào chỉ có thiệt thân, về thôi!”.

    Bà mẹ chồng cũ vừa tiếc cháu, vừa sợ con trai mất sự nghiệp, vừa sợ nợ nần, tức tối giậm chân đành phải lủi thủi leo lên xe. Trần Mặc nhìn tôi và con gái bằng ánh mắt vừa tức giận vừa bất lực, nhưng trước sự cứng rắn của anh chị tôi, anh ta chẳng làm gì được, vội vàng nổ máy phóng đi mất dạng.

    Nhìn chiếc xe cuối cùng khuất sau rặng tre, tôi mới thở phào nhẹ nhõm, quỳ sụp xuống ôm lấy con gái mà khóc vì hạnh phúc.

    Chị Hạnh đi tới, đỡ tôi đứng dậy, ân cần lau nước mắt cho tôi rồi mắng yêu: “Con bé này, đã bảo về nhà rồi thì không ai bắt nạt được hai mẹ con nữa cơ mà. Mau bế cháu vào ăn cơm, anh rể em vừa làm món sườn xào chua ngọt em thích nhất đấy.”

    Tôi nhìn chị dâu, nhìn anh trai, rồi nhìn căn nhà nhỏ ấm áp của mình. Sóng gió qua đi, tôi biết từ nay về sau, mẹ con tôi đã thực sự có một bến đỗ bình yên, nơi có tình thân gia đình vững chãi bảo vệ, chở che.

  • Vợ nhặt r;ác nuôi con tìm chồng m/ấ/t tí;ch suốt 15 năm không ng,ờ kẻ b;ội b;ạc vì ham phú quý mà b/ỏ vợ con

    Vợ nhặt r;ác nuôi con tìm chồng m/ấ/t tí;ch suốt 15 năm không ng,ờ kẻ b;ội b;ạc vì ham phú quý mà b/ỏ vợ con

    Mười lăm năm ròng rã, người đàn bà ấy lang thang khắp các bãi rác, nhặt từng vỏ lon, từng mảnh ve chai chỉ để nuôi con và tìm chồng. Nhưng ngày gặp lại… thứ đập vào mắt chị không phải là một người đàn ông khốn khổ, mà là một đại gia bước xuống từ xe hơi, tay ôm ả nhân tình trẻ măng. Chị bật cười giữa phố xá đông người – nụ cười rơi ra máu…”

    Thành phố này mười lăm năm nay đã đổi thay biết bao lần – những khu ổ chuột ngày xưa bị san lấp nhường chỗ cho nhà cao tầng, những con hẻm nhỏ vắng bóng người bán vé số còng lưng. Chỉ có chị – người đàn bà lưng còng, tóc rối, hai tay lem nhem mùi ve chai – là vẫn vậy.

    Người ta gọi chị là “chị Mơ” – cái tên nghe như mỉa mai khi nhìn cái dáng chị lầm lũi đẩy xe rác cũ kỹ, phía sau là đứa bé gái nhỏ xíu, mặt mũi lấm lem nhưng đôi mắt sáng như sao.

    Mười lăm năm trước, anh Tư – chồng chị – là một thợ hồ, hiền lành, yêu thương vợ con. Khi chị mang thai tháng thứ sáu, anh bảo phải đi công trình ngoài tỉnh, hứa sẽ về sau một tuần.

    Nhưng rồi một tuần… thành một tháng… rồi một năm. Không thư từ, không điện thoại, không một lời nhắn.

    Mười lăm năm ròng rã, người đàn bà ấy lang thang khắp các bãi rác, nhặt từng vỏ lon, từng mảnh ve chai chỉ để nuôi con và tìm chồng. Nhưng ngày gặp lại… thứ đập vào mắt chị không phải là một người đàn ông khốn khổ, mà là một đại gia bước xuống từ xe hơi, tay ôm ả nhân tình trẻ măng. Chị bật cười giữa phố xá đông người – nụ cười rơi ra máu…”

    Thành phố này mười lăm năm nay đã đổi thay biết bao lần – những khu ổ chuột ngày xưa bị san lấp nhường chỗ cho nhà cao tầng, những con hẻm nhỏ vắng bóng người bán vé số còng lưng. Chỉ có chị – người đàn bà lưng còng, tóc rối, hai tay lem nhem mùi ve chai – là vẫn vậy.

    Người ta gọi chị là “chị Mơ” – cái tên nghe như mỉa mai khi nhìn cái dáng chị lầm lũi đẩy xe rác cũ kỹ, phía sau là đứa bé gái nhỏ xíu, mặt mũi lấm lem nhưng đôi mắt sáng như sao.

    Mười lăm năm trước, anh Tư – chồng chị – là một thợ hồ, hiền lành, yêu thương vợ con. Khi chị mang thai tháng thứ sáu, anh bảo phải đi công trình ngoài tỉnh, hứa sẽ về sau một tuần.

    Nhưng rồi một tuần… thành một tháng… rồi một năm. Không thư từ, không điện thoại, không một lời nhắn.

    Gia đình anh Tư nghĩ anh chết rồi. Họ bảo chị làm đám giỗ tượng trưng, rồi đi lấy chồng khác.

    Nhưng chị Mơ không tin.

    Chị lang thang đi khắp nơi hỏi thăm. Có lúc nghe tin có người giống anh Tư làm thuê ở Đắk Lắk, chị dắt con lên tận đó. Nhưng cũng chỉ là một người cùng tên, khác người.

    Sau những lần tìm không kết quả, chị đành quay về thành phố. Không nghề nghiệp, không vốn liếng, chỉ có chiếc xe đẩy cũ và đôi tay chai sần.

    Chị nhặt rác.

    Ngày nắng cũng như ngày mưa. Có hôm đói lả, chị chia cho con gói mì tôm móc mép mua được từ đồng ve chai. Có hôm hai mẹ con bị đuổi khỏi khu nhà trọ vì không trả nổi 150 nghìn tiền phòng.

    Người đời nhìn chị bằng ánh mắt thương hại pha khinh rẻ. Có người nói thẳng:
    — “Chồng bỏ rồi còn đợi cái gì? Dính vào ma tuý chắc rồi!”

    Nhưng chị chỉ im lặng.

    Chị không tin chồng mình như vậy. Không tin một người từng khóc khi ôm chiếc áo len rách của chị lại có thể bỏ vợ con.

    Con bé Út An – con gái chị – lớn lên giữa những đống rác. Nhưng con bé khác những đứa trẻ ăn xin. Nó sạch sẽ, lễ phép, và học giỏi.

    Mỗi tối về, dù mệt rã rời, chị vẫn cố cầm tờ giấy báo tập viết cho con. Có bữa mưa lớn, chị co ro trong túi ni lông, con bé ngồi trong lòng chị, đọc bảng chữ cái:
    — “A – Ă – Â – B – C… Mẹ nghe rõ không?”
    — “Ừ… Mẹ nghe. Con gái mẹ giỏi lắm!”

    Cứ thế, Út An lên lớp 1, lớp 2. Người ta thương, cho con bé học miễn phí ở một lớp tình thương trong chùa.

    Rồi một ngày, cô giáo gọi chị lại:
    — “Chị à, con bé thông minh lắm. Tôi có người quen xin cho cháu suất học bổng bán trú. Không mất tiền đâu, chị yên tâm.”

    Chị cầm tờ giấy, khóc ròng. Lần đầu tiên sau mười năm nhặt rác, chị thấy tay mình cầm một cái gì sạch sẽ: giấy trắng, dấu đỏ – tờ xác nhận học bổng.

    Mười ba năm sau ngày mất tích của chồng, trong một đêm lạnh cuối đông, chị Mơ gặp một ông cụ ăn xin ngồi co ro ở gầm cầu. Nhìn thấy chị, ông gọi khẽ:
    — “Cô gì ơi… có phải cô là vợ thằng Tư không?”

    Chị sững người.
    — “Ông… biết chồng tôi?”

    — “Biết… biết chứ. Hồi trước nó làm thợ hồ ở công trình chỗ tôi trông coi. Một bữa có người kêu nó đi làm cho một ông chủ lớn – giàu lắm. Nó đi theo từ đó.”

    — “Ông chủ nào? Ở đâu?”

    — “Hình như tên Trần Văn Hùng gì đó… đại gia địa ốc, có biệt thự ở quận 7 thì phải

    Tim chị đập thình thịch. Cái tên này… chị từng nghe trên báo. Một doanh nhân bất động sản phất lên nhanh chóng sau năm 2012 – trùng thời gian anh Tư mất tích.

    Chị lục lọi mọi tin tức. Rồi một ngày, khi đang đứng trước cổng một biệt thự lớn ở Phú Mỹ Hưng, chị thấy một người đàn ông bước ra.

    Cao ráo, bảnh bao, tóc vuốt ngược, mặc vest hàng hiệu.

    Nhưng không thể lẫn được… là anh Tư.

    Cạnh anh là một cô gái trẻ – chỉ bằng tuổi con gái chị – khoác tay tình tứ.

    Chị lùi lại, tay run.

    “Không thể nào…” – chị tự nhủ. Nhưng ánh mắt, dáng đi, nốt ruồi sau gáy… tất cả đều không thể sai.

    Anh Tư – người chồng mà chị chờ đợi suốt mười lăm năm, đang sống trong nhung lụa. Và quên mất có một người đàn bà vẫn đang mò rác nuôi con cho anh.

    Chị Mơ đứng chết lặng trước cổng biệt thự.

    Người đàn ông ấy – Tư – bước lên chiếc xe hơi bóng loáng, mở cửa cho cô gái trẻ, nở nụ cười dịu dàng mà năm xưa anh từng dành cho chị.

    Nhưng hôm nay… không còn cho chị.

    Chị về, lặng lẽ. Đêm đó, chị không ăn. Đôi tay chai sần vẫn ôm lấy tấm ảnh cưới cũ, giờ đã ngả màu nâu vàng. Út An thấy mẹ khóc, ngồi bên:
    — “Mẹ… bố có còn sống đúng không?”

    Chị im lặng. Rồi gật đầu.
    — “Phải… sống. Nhưng không còn là bố con nữa rồi.”

    Hai tuần sau, chị trở lại biệt thự quận 7. Lần này, chị không đứng từ xa.

    Chị bước tới, gõ cửa. Người giúp việc mở ra, ánh mắt soi mói nhìn người phụ nữ áo quần rách rưới.
    — “Bà tìm ai?”

    — “Tôi tìm ông Tư… à không, ông Trần Văn Hùng.”

    Người giúp việc suýt phì cười:
    — “Bà nhầm nhà rồi. Ông chủ tôi không quen loại người như bà đâu.”

    Chị đưa ra một tấm hình: ảnh cưới năm xưa. Người giúp việc sững lại.

    Chị chưa kịp nói gì thì từ trong nhà, một giọng nam vang lên:
    — “Chuyện gì thế?”

    Anh Tư bước ra. Ánh mắt gặp chị. Trong khoảnh khắc, gương mặt anh như đông cứng.

    “Tư…” – giọng chị nghẹn lại – “Anh nhớ tôi không?”

    Im lặng. Không một tiếng thở.

    Rồi anh quay sang người giúp việc:
    — “Không quen. Mời bà ấy đi đi.”

    Cánh cửa đóng sầm.

    Chị đứng yên. Một người đàn ông vừa chối bỏ vợ mình trước mặt người làm. Chị không khóc. Chỉ cười – nụ cười mặn chát.

    Vài ngày sau, chị tìm gặp một người bạn cũ của anh Tư – anh Lực, từng làm cùng công trình năm xưa.

    Lực nay bán cà phê lề đường, thấy chị, thở dài:
    — “Tôi biết hết… nhưng không dám nói. Sợ chị đau.”

    — “Tôi đau đủ rồi. Anh nói đi.”

    Lực rít một hơi thuốc:
    — “Hồi đó, thằng Tư đi theo một ông chủ lớn làm công trình biệt thự. Làm tốt, được trọng dụng. Một hôm, ông chủ mời nó đi nhậu với khách từ Bắc vào – toàn dân có tiền. Sau đêm đó, nó đổi hẳn. Mặc vest, ngồi xe hơi, được dẫn đi gặp mấy cô gái trẻ làm PR. Rồi một ngày, ông chủ tuyên bố nhận nó làm con nuôi. Đổi tên, đổi giấy tờ. Từ đó, nó cắt đứt liên lạc với tụi tôi. Tôi biết nó bỏ chị… nhưng cũng hiểu: nó chọn tiền.”

    — “Nó có nói gì về tôi… về con không?

    Không. Nó chối sạch. Bảo ngày xưa chỉ là sống thử, không có đăng ký gì cả.”

    Chị siết chặt tay. Những đêm đông nhặt rác, những giọt sữa cạn dần trong ngực vì đói… chị đều cố vượt qua vì nghĩ anh vẫn sống đâu đó, nhớ về chị. Nhưng hóa ra – chỉ mình chị giữ lời hứa.

    Ba tháng sau, báo chí đưa tin: doanh nhân Trần Văn Hùng bị điều tra vì dính vào vụ án lừa đảo đất đai quy mô lớn.

    Chị đọc tin trong im lặng. Những người từng cười vào mặt chị, giờ xì xào:
    — “Tưởng giàu sang vững bền, ai ngờ bốc hơi!”

    Căn biệt thự bị niêm phong. Xe hơi bị thu giữ. Tài sản bị kê biên.

    Chị thấy anh lần cuối tại tòa – trong chiếc áo sơ mi nhăn nhúm, gương mặt hốc hác.

    Lúc anh được dẫn đi, ánh mắt lướt qua chị. Bất ngờ dừng lại.

    — “Mơ… là em đó sao?” – giọng anh run.

    Chị không trả lời. Chỉ nhìn thẳng vào mắt anh, nói nhẹ như gió:
    — “Anh đã bỏ tôi một lần… nhưng số phận không bỏ qua cho anh.”

    Anh rơi nước mắt. Nhưng đã quá muộn.

    Năm đó, Út An đỗ đại học Luật, là thủ khoa khối C của cả thành phố. Báo chí đưa tin: “Con gái bà ve chai đỗ thủ khoa”.

    Không ai biết… để có tiền cho con ôn thi, chị đã bán chiếc xe đẩy ve chai cũ kỹ – thứ duy nhất còn lại từ quá khứ.

    Ngày nhập học, có người hỏi:
    — “Bố em đâu? Sao không tới chúc mừng?”

    Út An chỉ mỉm cười:
    — “Em chỉ có mẹ. Thế là đủ.”

    Mỗi chiều, người ta vẫn thấy chị Mơ đi lượm ve chai – không còn đẩy xe, chỉ xách túi nhỏ. Bây giờ, không phải để nuôi con… mà như một thói quen.

    Chị vẫn sống trong căn phòng trọ cũ, vẫn cười nhẹ nhàng khi nhắc đến cái tên “Tư”.

    “Có người vì tiền mà quên vợ con. Nhưng tôi có đứa con nhớ mình là đủ rồi.”

    Cuộc đời lấy của chị một người chồng… nhưng trả lại cho chị một đứa con gái giỏi giang, giàu lòng tự trọng.

    Và điều đó – với chị – là phú quý lớn nhất.

  • Mùa đông năm tôi sáu tu;;ổi, mẹ ru;;ột đ;è tôi xuống giường đất, dùng dây t;rói tay chân rồi nh ét tôi vào một chiếc bao ph;ân bón.

    Mùa đông năm tôi sáu tu;;ổi, mẹ ru;;ột đ;è tôi xuống giường đất, dùng dây t;rói tay chân rồi nh ét tôi vào một chiếc bao ph;ân bón.

    Bà nói tôi sinh ra đã có số ăn bát cơm này.

    “Đôi mắt của con hữu dụng hơn đôi mắt mù của bà gấp trăm lần.”

    Cuộc sống cứ thế trôi qua.

    Nghèo thì có nghèo, nhưng yên ổn.

    Cho đến năm tôi mười ba tuổi, có một người phụ nữ tìm đến sạp của chúng tôi.

    Người phụ nữ ấy khoảng hơn ba mươi tuổi, mặc một chiếc áo bông đỏ đã cũ, tóc tai rối bời, dưới mắt có quầng thâm rõ rệt.

    Cô ta vừa ngồi xuống trước mặt bà đã bật khóc, chưa nói một câu nào.

    Bà không cử động.

    Một lúc lâu sau, người phụ nữ ấy mới mở miệng:

    “Bác ơi, con tôi mất tích ba ngày rồi. Bác giúp tôi xem thử còn tìm được không.”

    Bà im lặng rất lâu.

    Bà nắm lấy tay tôi, đầu ngón tay lạnh buốt.

    “Con bé Vũ, con xem tay cô ấy đi.”

    Tôi ngẩng đầu nhìn người phụ nữ kia.

    Cô ta chủ động chìa tay ra, lòng bàn tay ngửa lên, các ngón tay run rẩy.

    Tôi nhìn đường chỉ tay của cô ta.

    Sau đó, tôi cảm giác như có thứ gì đó lạnh từ sau gáy chạy dọc xuống sống lưng.

    Bà bóp mạnh cổ tay tôi dưới gầm bàn.

    Đó là tín hiệu không được nói.

    Tôi lập tức ngậm chặt miệng.

    Sau đó, người phụ nữ ấy rời đi.

    Tối hôm đó, bà ôm tôi ngồi trên giường, hạ giọng hỏi:

    “Con nhìn thấy gì?”

    “Trên tay cô ấy có đường máu. Không phải máu của người khác.”

    Bà nhẹ nhàng vỗ sau đầu tôi.

    “Nhớ kỹ, chuyện như thế này không được nói. Một khi nói ra, dính vào rồi sẽ không thể phủi sạch.”

    Ba ngày sau, người ta vớt được một chiếc bao tải dệt bằng nhựa dưới sông của thị trấn.

    Bên trong là một bé trai năm tuổi.

    Người phụ nữ ấy đã treo cổ trong nhà mình.

    Người trong thị trấn đều nói cô ta đau khổ vì mất con, nghĩ quẩn nên mới làm vậy.

    Chỉ có tôi biết sự thật.

    Đó là lần đầu tiên tôi thật sự sợ đôi mắt của chính mình.

    Cũng từ sau lần ấy, mỗi khi xem chỉ tay cho người khác, tôi đã biết chuyện gì nên nói, chuyện gì không nên nói.

    Bà sống đến năm tôi mười tám tuổi.

    Ngày bà ra đi vừa đúng tiết Đại Hàn.

    Bà ngồi trong gian chính, tay nắm chặt một nắm tiền đồng, nói với tôi câu cuối cùng:

    “Con bé, sau này con phải tự đi một mình. Đừng chạm vào chuyện lớn, đừng dính dáng đến người có quyền thế. Trong mệnh con có một kiếp nạn, vượt qua được là ổn.”

    Sau đó, bà nhắm mắt lại, không bao giờ mở ra nữa.

    Tôi chôn bà dưới gốc cây hòe già ở phía đông thị trấn.

    Không bia, không tên.

    Khi còn sống, người trong thị trấn gọi bà là Chu mù. Chết rồi cũng chẳng có ai nhớ bà họ gì.

    Nhưng tôi nhớ.

    Bà là người thân duy nhất của tôi trên đời này.

    Ngày hôm sau khi chôn cất bà, tôi thu dọn ống quẻ và tấm vải xanh của bà rồi lại ra bày sạp.

    Địa điểm đã đổi, từ thị trấn chuyển lên huyện.

    Tháng Chạp năm 1998, tôi mười tám tuổi, một mình ngồi xổm trên mặt đất tại khu chợ cổng Đông của huyện Nam Hà. Trước mặt trải một tấm vải xanh, trên đó viết bốn chữ:

    “Xem chỉ tay, năm tệ.”

    02

    Huyện thành không giống thị trấn.

    Người đến chợ phiên trong thị trấn đều là dân các làng gần đó, chất phác, thật thà và tin vào những chuyện này.

    Trong huyện có rất nhiều người khôn lỏi. Người có tiền coi thường sạp bói toán năm tệ bên đường, người không có tiền lại không nỡ bỏ ra.

    Ba ngày đầu tiên, tôi không có một vị khách nào.

    Khi tôi ngồi xổm tại sạp gặm bánh màn thầu, người chị bán tất bên cạnh liếc tôi:

    “Cô bé, tuổi cô mà làm nghề này thì không lừa được người ta đâu. Về nhà tìm việc khác mà làm đi.”

    Tôi không để ý đến chị ấy.

    Ngày thứ tư, một người đàn ông trung niên tới.

    Quần lao động, giày cao su màu vàng, trong kẽ móng tay còn dính dầu máy không thể rửa sạch. Ông ấy là công nhân nhà máy.

    Những năm ấy, doanh nghiệp nhà nước cải tổ. Nhà máy phân bón và nhà máy dệt trong huyện lần lượt đóng cửa, người thất nghiệp nhiều từng nhóm từng nhóm.

    Ông ấy ngồi xổm trước mặt tôi, do dự hồi lâu rồi vẫn lấy ra năm tệ.

    “Xem giúp tôi đi, gần đây vận may của tôi không tốt.”

    Tôi cầm lấy tay ông ấy.

    Đường chỉ tay thô ráp, những lớp chai chồng lên nhau.

    Tôi nhìn rất lâu.

    “Không phải vận may của ông không tốt.”

    “Vậy là gì?”

    “Ông đang do dự về một chuyện.”

    Ánh mắt ông ấy khẽ thay đổi.

    “Chuyện gì?”

    “Ông muốn hợp tác làm ăn với người khác. Đối phương có nguồn hàng, còn ông bỏ công sức.”

    Sắc mặt ông ấy thay đổi:

    “Sao cô biết?”

    Tôi chỉ vào một đường trong lòng bàn tay ông ấy:

    “Đây là đường sự nghiệp. Ở giữa xuất hiện nhánh rẽ, chứng tỏ có cơ hội hợp tác. Nhưng ông nhìn chỗ này đi—”

    Tôi chỉ vào một vùng đường vân dưới gốc ngón trỏ.

    “Vị trí này đại diện cho độ đáng tin của đối tác. Chỗ này của ông hơi tối, chứng tỏ đối phương không hoàn toàn đáng tin.”

    Khi rời đi, vẻ mặt người đàn ông ấy rất phức tạp.

    Một tuần sau, ông ấy lại tới.

    Lần này ông không ngồi xuống, chỉ đứng trước mặt tôi nói:

    “Cô bé, cô nói đúng. Người kia ôm tiền bỏ trốn rồi, may mà tôi chưa đầu tư quá nhiều.”

    Ông ấy ném mười tệ xuống tấm vải xanh.

    “Năm tệ thừa coi như cảm ơn cô.”

    Thứ gọi là danh tiếng lan truyền cực kỳ nhanh trong chợ.

    Chưa đầy một tháng, trước sạp của tôi đã bắt đầu có người xếp hàng.

    Đủ loại người đều tới. Người trung niên thất nghiệp hỏi đường sống, cô gái trẻ hỏi nhân duyên, người làm ăn hỏi tài vận.

  • Người Vợ Vi ệt Mang Th//ai Sắp Bị HỏaTáng Ở Mỹ, Nhân Viên Bỗng H/ét Lớn: “Bụng Cô Ấy Đang Cử Động!

    Người Vợ Việt Mang Th/ai Sắp Bị Hỏa Táng Ở Mỹ, Nhân Viên Bỗng Hét Lớn: “Bụng Cô Ấy Đang Cử Động!”….

    Ông Lê Quang Minh, ngoài 60, mái tóc bạc quá nửa, sống ở Mỹ gần 30 năm. Công việc của ông tại lò hỏa táng công lập San Jose không ồn ào, nhưng ông luôn coi đó là trách nhiệm. Ông thường nói: người sống cần được tôn trọng, người đã mất càng cần hơn.

    Chiều hôm ấy, hồ sơ cuối cùng: Trần Mỹ Linh, 28 tuổi, mang thai 8 tháng, nguyên nhân tử vong: ngừng tim đột ngột tại phòng khám tư ở Oakland. Giấy tờ hợp lệ, chữ ký đầy đủ. Nhưng khi đọc đến dòng thai nhi 32 tuần, lòng ông trĩu xuống.

    Quan tài được đưa đến. Gia đình bên chồng có mặt: Nguyễn Hoàng Nam, chồng, tầm 30, gương mặt căng thẳng nhưng không biểu lộ đau buồn. Bà Nguyễn Thị Hạnh, mẹ chồng, dáng cứng cỏi, mắt lạnh. Jessica, bạn thân gia đình. Không ai tiến lại gần quan tài, không ai muốn nhìn mặt lần cuối, không có lời cầu nguyện. Nam liên tục xem đồng hồ, bà Hạnh hỏi thời gian, Jessica nhắn tin. Ông Minh ghi nhận điều khác lạ.

    Đến bước kiểm tra cuối, ông đặt tay lên nắp quan tài như thói quen. Khoảnh khắc ấy, ông cảm nhận một điều khiến tim chậm lại – hơi ấm nhẹ, và một dao động rất nhỏ. Không phải ảo giác. Ông đã chạm vào hàng nghìn quan tài, ông biết cảm giác của gỗ lạnh. Nhưng đây khác. Ông kiểm tra lại, lần này rõ hơn: một chuyển động có nhịp. Ông biết nếu sai sẽ mất việc, nếu đúng thì nhấn nút là sai lầm không thể cứu vãn.

    Nam bước tới thúc giục. Bà Hạnh tỏ ý khó chịu. Jessica tiếp tục nhắn tin. Ông Minh đặt tay lên nắp lần thứ ba – dao động rõ ràng hơn. Ông nghĩ đến đứa trẻ chưa chào đời. Ông quay sang quản lý: “Cần thêm bước xác minh.” Nam phản ứng ngay, bà Hạnh yêu cầu không chậm trễ. Họ viện dẫn quyền pháp lý, khẳng định bệnh viện đã xác nhận. Ông Minh lắng nghe nhưng không thay đổi. Ông không buộc tội, chỉ nói ông cảm thấy bất thường và cần kiểm tra lại. Giọng ông kiên định.

    Căng thẳng leo thang. Quản lý nhắc về lịch trình. Nam mất kiên nhẫn, bà Hạnh cho rằng đó là xúc phạm. Ông Minh hiểu mình đang đơn độc, nhưng ông cũng hiểu nếu bỏ qua sẽ ám ảnh cả đời. Ông tuyên bố tạm dừng quy trình. Không nhấn nút, không kích hoạt lò, cho đến khi có xác nhận bổ sung.

    Không khí căng cứng. Nam yêu cầu giải thích căn cứ pháp lý. Bà Hạnh cho rằng thiếu tôn trọng. Jessica trao đổi ánh mắt với Nam. Quản lý muốn kết thúc. Ông Minh gọi 911 báo có nghi vấn về tình trạng sinh tồn của sản phụ đã được xác nhận tử vong. Ngay lúc đó, cha mẹ ruột của Linh – ông Trần Văn Hòa và bà Nguyễn Kim Lan – vừa đáp chuyến bay từ Houston đến, chưa từng gặp gia đình bên chồng. Họ chỉ biết con gái đột ngột qua đời. Khi biết quy trình bị tạm dừng vì nghi ngờ, ông Hòa yêu cầu giải thích. Ông Minh nói rõ: ông cảm nhận được chuyển động bất thường. Nam phản đối, bà Hạnh cho rằng làm tổn thương hai bên. Nhưng ông Hòa nói nếu còn một phần nhỏ nghi ngờ, ông muốn kiểm tra.

    Tiếng còi xe cấp cứu vang lên. Nhân viên y tế ban đầu hoài nghi, nhưng khi nghe sản phụ 8 tháng, họ trao đổi ánh nhìn. Họ đặt thiết bị cảm biến lên quan tài – một đường dao động mảnh xuất hiện: nhịp tim thai. Họ kiểm tra mạch người mẹ qua vị trí cổ – có mạch yếu. Bà Lan bật khóc, ông Hòa gần như khuỵu xuống. Ông Minh đứng yên, trong lòng dâng lên sóng mạnh. Nam không giữ bình tĩnh, khẳng định không thể có chuyện đó. Nhân viên y tế thông báo cần chuyển khẩn cấp đến bệnh viện Stanford.khi Nắp quan tài được mở ra……….

    …………………………………..

    Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

    TẠI ĐÂY 👇👇👇

    Linh nằm đó, tái nhợt, nhưng mạch yếu được xác nhận, nhịp tim thai nghe rõ bằng thiết bị. Linh và con được đưa lên cáng, xe cứu thương lao đi. Ông Minh nhìn theo, nghĩ: nếu ông đã nhấn nút, mọi thứ đã chấm dứt.

    Tại Stanford, Linh được đưa thẳng vào phòng mổ khẩn cấp. Huyết áp rất thấp, nhịp tim yếu, thai nhi đang giảm cường độ. Bác sĩ quyết định mổ lấy thai ngay. Ông Hòa ký giấy đồng ý, chỉ hỏi một câu: “Còn cơ hội không?” Bác sĩ: “Nếu hành động ngay.” Em bé được đưa ra, da tái nhợt, không khóc. Đội hồi sức kích thích, hỗ trợ hô hấp. Nhịp tim dao động, rồi một tiếng khóc yếu ớt vang lên. Bà Lan nghe thấy, quay sang ông Hòa, không dám tin. Nhưng Linh vẫn mất máu nghiêm trọng, các bác sĩ kiểm soát xuất huyết, truyền máu. Sau nhiều nỗ lực, các chỉ số bắt đầu nhích lên. Cả hai mẹ con còn sống.

    Sáng hôm sau, hai thanh tra xuất hiện tại trung tâm hỏa táng. Ông Minh kể chi tiết những gì mình cảm nhận. Họ trích xuất camera, thấy sự vội vã của Nam và bà Hạnh. Họ kiểm tra phòng khám Oakland, phát hiện hồ sơ sơ sài, không có siêu âm cuối cùng, không theo dõi tim thai trước khi tuyên bố tử vong. Bác sĩ được mời làm việc, ban đầu khẳng định quy trình đúng, nhưng đối chiếu dữ liệu từ Stanford cho thấy Linh vẫn có mạch. Điều đó có nghĩa tuyên bố tử vong là sai. Rà soát giao dịch: 200.000 đô la được chuyển từ tài khoản bà Hạnh vào tài khoản bác sĩ vài ngày trước khi Linh nhập viện. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 2 triệu đô, người thụ hưởng ban đầu là hai vợ chồng, một tháng trước được đổi thành duy nhất Nam. Tin nhắn giữa Nam và Jessica về “cuộc sống mới” và “kế hoạch phải hoàn tất nhanh”. Bác sĩ thừa nhận đã ký giấy chứng tử trong khi biết bệnh nhân vẫn có dấu hiệu sinh tồn. Nam, bà Hạnh, Jessica bị truy tố về âm mưu giết người chưa đạt và gian lận bảo hiểm. Tòa tuyên án: bác sĩ 12 năm tù, tước giấy phép hành nghề; Nam, bà Hạnh, Jessica mỗi người 20 năm tù.

    Linh hồi phục chậm nhưng chắc chắn. Con trai cô nằm trong lồng ấp ba tuần, nhịp tim ổn định, tự thở đều. Khi lần đầu được bế con, Linh không nói nên lời. Cô viết thư cho ông Minh: “Nếu ông đã làm theo quy trình, tôi và con sẽ không còn cơ hội. Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc một người xa lạ đã chọn tin vào trực giác thay vì áp lực.” Ông Minh cất thư vào ngăn bàn, không kể với ai. Năm năm sau, Linh đến gặp ông, bế con trai năm tuổi. Cô cúi đầu thật sâu, cảm ơn ông. Cô nói mỗi sinh nhật con đều nhớ đến khoảnh khắc chiếc nút đỏ không được nhấn. Cô đặt vào tay ông một tấm ảnh gia đình: cô, cha mẹ, và con trai. Tất cả đều cười. Ông Minh cầm tấm ảnh rất lâu, đặt cạnh lá thư cũ. Ông quay lại chiếc nút khởi động, vẫn chỉ là nút đỏ bình thường. Nhưng với ông, nó nhắc về trách nhiệm, sự thận trọng và lòng can đảm thầm lặng.

    Câu chuyện nhắc nhở: đôi khi lòng can đảm không phải là làm điều phi thường, mà là dám dừng lại khi mọi người đang thúc giục tiến lên. Và trong một thế giới mọi thứ bị quyết định quá nhanh, điều quý giá nhất là khả năng chậm lại đủ lâu để lắng nghe sự thật đang khẽ gõ cửa.

  • Thương bà cụ đi nắng, tài xế cho bà đi nhờ, ai ngờ 15 phút sau, chiếc xe gặp 1 vấn đề kinhkhủng mà trước giờ anh tài xế gặp…

    Thương bà cụ đi nắng, tài xế cho bà đi nhờ, ai ngờ 15 phút sau, chiếc xe gặp 1 vấn đề kinhkhủng mà trước giờ anh tài xế gặp…

    Tôi chạy xe đường dài đã hơn mười năm. Gặp đủ loại người, đủ loại chuyện – vui có, buồn có, thậm chí có những chuyện khiến tôi mất ngủ cả tuần. Nhưng nếu hỏi đâu là chuyến xe ám ảnh nhất trong đời, tôi sẽ không cần suy nghĩ mà kể ngay về buổi trưa hôm đó… cái ngày tôi cho một bà cụ đi nhờ.

    Và chỉ 15 phút sau, mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát.

    Hôm đó nắng gắt.

    Nắng miền Nam tháng sáu không phải kiểu oi ả bình thường, mà là thứ nắng như đổ lửa, đứng ngoài đường vài phút là thấy da rát lên từng mảng. Tôi vừa giao xong chuyến hàng nhỏ ở ngoại ô, đang chạy xe về lại trung tâm thì thấy bên lề đường có một bà cụ đứng lom khom dưới bóng cây.

    Khám phá thêm

    tới

    Tỏi

    Gia đình

    Cụ mặc áo bà ba bạc màu, đầu đội chiếc nón lá đã sờn, tay cầm túi vải nhỏ. Điều khiến tôi chú ý là cụ không vẫy xe, cũng không bước ra đường. Chỉ đứng đó, nhìn theo từng chiếc xe đi qua.

    Tôi chạy chậm lại. Trong đầu thoáng qua ý nghĩ: “Có khi cụ cần giúp.”

    Tôi không phải người quá tốt bụng, nhưng cũng không đến mức vô cảm.

    Tôi tấp xe vào.

    “Bà đi đâu không? Cháu chở một đoạn.”

    Cụ nhìn tôi, ánh mắt đục nhưng sáng, như có gì đó rất… khó tả.

    “Cho bà đi nhờ lên thị trấn được không con?”

    Giọng cụ khàn, nhẹ, nhưng rõ từng chữ.

    Tôi gật đầu.

    “Dạ, bà lên xe đi.”

    Cụ mở cửa, leo lên chậm rãi. Điều lạ là… khi cụ ngồi xuống, tôi gần như không cảm nhận được độ lún của ghế. Tôi còn tưởng mình tưởng tượng.

    “Bà ngồi cho chắc nha.”

    “Ừ, bà ngồi rồi.”

    Xe bắt đầu lăn bánh.

    Ban đầu, mọi thứ rất bình thường.

    Tôi bật điều hòa, hỏi han vài câu.

    “Bà đi đâu vậy?”

    “Bà lên thăm người quen.”

    “Nhà xa không bà?”

    “Không xa… cũng không gần.”

    Câu trả lời của cụ khiến tôi hơi khựng lại, nhưng rồi cũng bỏ qua. Người già hay nói vậy, tôi nghĩ.

    Một lúc sau, tôi bật radio cho đỡ buồn.

    Nhưng vừa bật lên, sóng bị rè. Tôi chỉnh lại vài lần vẫn không được.

    “Lạ thật…” tôi lẩm bẩm.

    Bình thường đoạn đường này sóng rất ổn.

    Khám phá thêm

    Tài nguyên & Dịch vụ viết Blog

    Thời gian & Lịch

    Lễ mừng em bé sắp chào đời và lễ kỷ niệm trẻ sơ sinh

    Tôi định tắt đi thì cụ lên tiếng:

    “Đừng bật nữa con.”

    Tôi quay sang nhìn.

    “Sao vậy bà?”

    “Ồn… bà không thích.”

    Tôi gật đầu, tắt radio.

    Xe lại rơi vào im lặng.

    Khoảng 5 phút sau, tôi bắt đầu thấy… lạnh.

    Không phải kiểu lạnh dễ chịu của điều hòa, mà là cái lạnh len lỏi, rợn người, như có ai đó mở cửa tủ đông ngay trong xe.

    Tôi nhìn xuống bảng điều khiển.

    Nhiệt độ vẫn để 26 độ, quạt gió bình thường.

    Tôi đưa tay chỉnh xuống 28.

    Nhưng cảm giác lạnh không giảm.

    Ngược lại… còn rõ hơn.

    Tôi liếc qua gương chiếu hậu.

    Bà cụ vẫn ngồi đó, lưng thẳng, hai tay đặt trên túi vải, mắt nhìn thẳng phía trước.

    Không chớp.

    Không động đậy.

    Tôi nuốt nước bọt.

    “Bà… có thấy lạnh không?”

    Cụ không quay sang, chỉ đáp:

    “Không.”

    Giọng cụ đều đều, không cảm xúc.

    Tôi cố trấn an mình. Có thể do tôi mệt, hoặc do điều hòa có vấn đề.

    Nhưng rồi, chuyện tiếp theo khiến tôi bắt đầu hoang mang thật sự.

    Kính xe bắt đầu mờ đi.

    Ban đầu là một lớp hơi nước mỏng, như khi trời lạnh mà thở ra.

    Tôi lấy khăn lau, nhưng chỉ vài giây sau, lớp mờ lại xuất hiện.

    Tôi tắt điều hòa.

    Nhưng kính vẫn mờ.

    Mồ hôi bắt đầu túa ra sau lưng tôi – dù nhiệt độ trong xe vẫn lạnh đến rợn người.

    “Cái quái gì vậy…” tôi lẩm bẩm.

    Bất chợt, tôi nghe thấy tiếng… gõ.

    Cộc… cộc… cộc…

    Nhẹ thôi, nhưng rất rõ.

    Tôi giật mình, nhìn quanh.

    “Bà có nghe gì không?”

    “Nghe.”

    “Tiếng gì vậy bà?”

    Cụ im lặng vài giây, rồi nói:

    “Chắc là… người ta gọi.”

    Tôi rùng mình.

    “Gọi… ai?”

    “Gọi bà.”

    Tay tôi siết chặt vô lăng.

    “Bà nói gì vậy…”

    Cụ không trả lời.

    Tôi bắt đầu thấy hối hận vì đã dừng xe.

    Không phải vì sợ tốn thời gian.

    Mà vì… có gì đó rất sai.

    Rất sai.

    Tôi liếc qua gương lần nữa.

    Và lần này… tim tôi như ngừng đập.

    Bóng của bà cụ… không phản chiếu trên gương.

    Ghế sau trống không.

    Tôi quay phắt đầu lại.

    Bà cụ vẫn ngồi đó.

    Ngay sau lưng tôi.

    Nhưng trong gương… không có.

    Một giây.

    Hai giây.

    Tôi không dám thở.

    “Bà…”

    Giọng tôi run hẳn.

    Cụ từ từ quay đầu sang tôi.

    Lần đầu tiên, tôi nhìn rõ khuôn mặt cụ.

    Và tôi ước gì mình chưa từng quay lại.

    Mắt cụ… không còn là màu đục bình thường.

    Mà là một màu trắng đục hoàn toàn.

    Không có tròng đen.

    Không có ánh nhìn.

    Chỉ là… hai hốc mắt trắng bệch.

    “Con thấy rồi à…”

    Giọng cụ thay đổi.

    Không còn khàn khàn, mà trầm và lạnh, như vọng từ nơi rất xa.

    Tôi hét lên, đạp phanh.

    Chiếc xe trượt dài trên đường, bánh xe rít lên chói tai.

    Tôi lao ra khỏi xe.

    Không dám quay đầu lại.

    Chạy một đoạn, tôi mới dừng lại, thở dốc, tim đập như muốn vỡ lồng ngực.

    Tôi quay lại.

    Chiếc xe vẫn ở đó.

    Cửa đóng.

    Không có ai xung quanh.

    Tôi đứng chần chừ vài phút.

    Rồi lấy hết can đảm, tiến lại gần.

    Mở cửa xe.

    Ghế sau… trống không.

    Không có bà cụ.

    Không có túi vải.

    Không có bất cứ dấu vết nào.

    Như thể… chưa từng có ai ngồi đó.

    Tôi đứng chết lặng.

    “Không thể nào…”

    Tôi sờ vào ghế.

    Lạnh.

    Lạnh đến mức buốt tay.

    Tôi đóng cửa, leo lên xe, run rẩy nổ máy.

    Chỉ muốn rời khỏi nơi đó càng nhanh càng tốt.

    Nhưng chuyện chưa dừng lại.

    Khi tôi nhìn lên kính chiếu hậu…

    Tôi thấy bà cụ.

    Không phải trên ghế.

    Mà là… phía sau xe.

    Cụ đứng giữa đường, nhìn thẳng vào tôi.

    Khoảng cách phải hơn chục mét.

    Nhưng tôi vẫn thấy rõ…

    Cụ đang cười.

    Một nụ cười kéo dài đến tận mang tai.

    Tôi phóng xe đi.

    Không dám nhìn lại.

    Không dám nghĩ thêm.

    Chỉ biết chạy.

    Chạy càng xa càng tốt.

    Tối hôm đó, tôi không ngủ được.

    Đầu óc quay cuồng với những gì đã xảy ra.

    Tôi tự hỏi… mình đã gặp cái gì?

    Một người?

    Hay… thứ gì khác?

    Ngày hôm sau, tôi quay lại đoạn đường đó.

    Không phải vì can đảm.

    Mà vì… tôi cần biết sự thật.

    Tôi hỏi mấy người bán nước ven đường.

    “Ở đây… có ai hay đứng xin đi nhờ xe không?”

    Một bà bán nước nhìn tôi, mặt biến sắc.

    “Cậu… cũng gặp rồi à?”

    Tim tôi thắt lại.

    “Gặp… ai?”

    Bà hạ giọng:

    “Bà cụ đó.”

    “Bà cụ nào?”

    “Bà cụ mặc áo bà ba, đội nón lá… hay đứng dưới gốc cây kia.”

    Tôi lạnh sống lưng.

    “Bà đó… là ai?”

    Bà nhìn tôi, rồi nói chậm rãi:

    “Bà đó… chết cách đây 3 năm rồi.”

    Tôi đứng lặng.

    “Chết… sao?”

    “Bị xe tông. Ngay chỗ cậu đón bà đó.”

    Tôi nuốt khan.

    “Sau đó… có nhiều người nói thấy bà đứng xin đi nhờ xe. Ai dừng lại… thì đều gặp chuyện.”

    “Chuyện gì?”

    Bà lắc đầu.

    “Người thì bị tai nạn. Người thì ốm nặng. Có người… bỏ nghề luôn.”

    Tôi không nói gì.

    Chỉ cảm thấy một luồng lạnh chạy dọc sống lưng.

    Tôi không kể chuyện này cho ai.

    Không phải vì sợ người ta không tin.

    Mà vì… tôi sợ chính mình phải nhớ lại.

    Từ hôm đó, tôi không bao giờ dừng xe cho người lạ nữa.

    Dù trời có nắng đến đâu.

    Dù người đó có đáng thương thế nào.

    Nhưng có một điều… đến giờ tôi vẫn không hiểu.

    Hôm đó…

    Nếu tôi không quay đầu lại…

    Nếu tôi không nhìn vào gương…

    Liệu mọi chuyện có khác đi không?

    Hay… ngay từ lúc tôi dừng xe…

    Mọi thứ đã được định sẵn rồi?

  • Người Vợ Vi ệt Mang Th//ai Sắp Bị HỏaTáng Ở Mỹ, Nhân Viên Bỗng H/ét Lớn: “Bụng Cô Ấy Đang Cử Động!”….

    Người Vợ Vi ệt Mang Th//ai Sắp Bị HỏaTáng Ở Mỹ, Nhân Viên Bỗng H/ét Lớn: “Bụng Cô Ấy Đang Cử Động!”….

    Người Vợ Việt Mang Th/ai Sắp Bị Hỏa Táng Ở Mỹ, Nhân Viên Bỗng Hét Lớn: “Bụng Cô Ấy Đang Cử Động!”….

    Ông Lê Quang Minh, ngoài 60, mái tóc bạc quá nửa, sống ở Mỹ gần 30 năm. Công việc của ông tại lò hỏa táng công lập San Jose không ồn ào, nhưng ông luôn coi đó là trách nhiệm. Ông thường nói: người sống cần được tôn trọng, người đã mất càng cần hơn.

    Chiều hôm ấy, hồ sơ cuối cùng: Trần Mỹ Linh, 28 tuổi, mang thai 8 tháng, nguyên nhân tử vong: ngừng tim đột ngột tại phòng khám tư ở Oakland. Giấy tờ hợp lệ, chữ ký đầy đủ. Nhưng khi đọc đến dòng thai nhi 32 tuần, lòng ông trĩu xuống.

    Quan tài được đưa đến. Gia đình bên chồng có mặt: Nguyễn Hoàng Nam, chồng, tầm 30, gương mặt căng thẳng nhưng không biểu lộ đau buồn. Bà Nguyễn Thị Hạnh, mẹ chồng, dáng cứng cỏi, mắt lạnh. Jessica, bạn thân gia đình. Không ai tiến lại gần quan tài, không ai muốn nhìn mặt lần cuối, không có lời cầu nguyện. Nam liên tục xem đồng hồ, bà Hạnh hỏi thời gian, Jessica nhắn tin. Ông Minh ghi nhận điều khác lạ.

    Đến bước kiểm tra cuối, ông đặt tay lên nắp quan tài như thói quen. Khoảnh khắc ấy, ông cảm nhận một điều khiến tim chậm lại – hơi ấm nhẹ, và một dao động rất nhỏ. Không phải ảo giác. Ông đã chạm vào hàng nghìn quan tài, ông biết cảm giác của gỗ lạnh. Nhưng đây khác. Ông kiểm tra lại, lần này rõ hơn: một chuyển động có nhịp. Ông biết nếu sai sẽ mất việc, nếu đúng thì nhấn nút là sai lầm không thể cứu vãn.

    Nam bước tới thúc giục. Bà Hạnh tỏ ý khó chịu. Jessica tiếp tục nhắn tin. Ông Minh đặt tay lên nắp lần thứ ba – dao động rõ ràng hơn. Ông nghĩ đến đứa trẻ chưa chào đời. Ông quay sang quản lý: “Cần thêm bước xác minh.” Nam phản ứng ngay, bà Hạnh yêu cầu không chậm trễ. Họ viện dẫn quyền pháp lý, khẳng định bệnh viện đã xác nhận. Ông Minh lắng nghe nhưng không thay đổi. Ông không buộc tội, chỉ nói ông cảm thấy bất thường và cần kiểm tra lại. Giọng ông kiên định.

    Căng thẳng leo thang. Quản lý nhắc về lịch trình. Nam mất kiên nhẫn, bà Hạnh cho rằng đó là xúc phạm. Ông Minh hiểu mình đang đơn độc, nhưng ông cũng hiểu nếu bỏ qua sẽ ám ảnh cả đời. Ông tuyên bố tạm dừng quy trình. Không nhấn nút, không kích hoạt lò, cho đến khi có xác nhận bổ sung.

    Không khí căng cứng. Nam yêu cầu giải thích căn cứ pháp lý. Bà Hạnh cho rằng thiếu tôn trọng. Jessica trao đổi ánh mắt với Nam. Quản lý muốn kết thúc. Ông Minh gọi 911 báo có nghi vấn về tình trạng sinh tồn của sản phụ đã được xác nhận tử vong. Ngay lúc đó, cha mẹ ruột của Linh – ông Trần Văn Hòa và bà Nguyễn Kim Lan – vừa đáp chuyến bay từ Houston đến, chưa từng gặp gia đình bên chồng. Họ chỉ biết con gái đột ngột qua đời. Khi biết quy trình bị tạm dừng vì nghi ngờ, ông Hòa yêu cầu giải thích. Ông Minh nói rõ: ông cảm nhận được chuyển động bất thường. Nam phản đối, bà Hạnh cho rằng làm tổn thương hai bên. Nhưng ông Hòa nói nếu còn một phần nhỏ nghi ngờ, ông muốn kiểm tra.

    Tiếng còi xe cấp cứu vang lên. Nhân viên y tế ban đầu hoài nghi, nhưng khi nghe sản phụ 8 tháng, họ trao đổi ánh nhìn. Họ đặt thiết bị cảm biến lên quan tài – một đường dao động mảnh xuất hiện: nhịp tim thai. Họ kiểm tra mạch người mẹ qua vị trí cổ – có mạch yếu. Bà Lan bật khóc, ông Hòa gần như khuỵu xuống. Ông Minh đứng yên, trong lòng dâng lên sóng mạnh. Nam không giữ bình tĩnh, khẳng định không thể có chuyện đó. Nhân viên y tế thông báo cần chuyển khẩn cấp đến bệnh viện Stanford.khi Nắp quan tài được mở ra……….

    …………………………………..

    Mời quý đọc giả đọc phần PHẦN 2 của câu chuyện

    TẠI ĐÂY 👇👇👇

    Linh nằm đó, tái nhợt, nhưng mạch yếu được xác nhận, nhịp tim thai nghe rõ bằng thiết bị. Linh và con được đưa lên cáng, xe cứu thương lao đi. Ông Minh nhìn theo, nghĩ: nếu ông đã nhấn nút, mọi thứ đã chấm dứt.

    Tại Stanford, Linh được đưa thẳng vào phòng mổ khẩn cấp. Huyết áp rất thấp, nhịp tim yếu, thai nhi đang giảm cường độ. Bác sĩ quyết định mổ lấy thai ngay. Ông Hòa ký giấy đồng ý, chỉ hỏi một câu: “Còn cơ hội không?” Bác sĩ: “Nếu hành động ngay.” Em bé được đưa ra, da tái nhợt, không khóc. Đội hồi sức kích thích, hỗ trợ hô hấp. Nhịp tim dao động, rồi một tiếng khóc yếu ớt vang lên. Bà Lan nghe thấy, quay sang ông Hòa, không dám tin. Nhưng Linh vẫn mất máu nghiêm trọng, các bác sĩ kiểm soát xuất huyết, truyền máu. Sau nhiều nỗ lực, các chỉ số bắt đầu nhích lên. Cả hai mẹ con còn sống.

    Sáng hôm sau, hai thanh tra xuất hiện tại trung tâm hỏa táng. Ông Minh kể chi tiết những gì mình cảm nhận. Họ trích xuất camera, thấy sự vội vã của Nam và bà Hạnh. Họ kiểm tra phòng khám Oakland, phát hiện hồ sơ sơ sài, không có siêu âm cuối cùng, không theo dõi tim thai trước khi tuyên bố tử vong. Bác sĩ được mời làm việc, ban đầu khẳng định quy trình đúng, nhưng đối chiếu dữ liệu từ Stanford cho thấy Linh vẫn có mạch. Điều đó có nghĩa tuyên bố tử vong là sai. Rà soát giao dịch: 200.000 đô la được chuyển từ tài khoản bà Hạnh vào tài khoản bác sĩ vài ngày trước khi Linh nhập viện. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 2 triệu đô, người thụ hưởng ban đầu là hai vợ chồng, một tháng trước được đổi thành duy nhất Nam. Tin nhắn giữa Nam và Jessica về “cuộc sống mới” và “kế hoạch phải hoàn tất nhanh”. Bác sĩ thừa nhận đã ký giấy chứng tử trong khi biết bệnh nhân vẫn có dấu hiệu sinh tồn. Nam, bà Hạnh, Jessica bị truy tố về âm mưu giết người chưa đạt và gian lận bảo hiểm. Tòa tuyên án: bác sĩ 12 năm tù, tước giấy phép hành nghề; Nam, bà Hạnh, Jessica mỗi người 20 năm tù.

    Linh hồi phục chậm nhưng chắc chắn. Con trai cô nằm trong lồng ấp ba tuần, nhịp tim ổn định, tự thở đều. Khi lần đầu được bế con, Linh không nói nên lời. Cô viết thư cho ông Minh: “Nếu ông đã làm theo quy trình, tôi và con sẽ không còn cơ hội. Tôi sẽ không bao giờ quên khoảnh khắc một người xa lạ đã chọn tin vào trực giác thay vì áp lực.” Ông Minh cất thư vào ngăn bàn, không kể với ai. Năm năm sau, Linh đến gặp ông, bế con trai năm tuổi. Cô cúi đầu thật sâu, cảm ơn ông. Cô nói mỗi sinh nhật con đều nhớ đến khoảnh khắc chiếc nút đỏ không được nhấn. Cô đặt vào tay ông một tấm ảnh gia đình: cô, cha mẹ, và con trai. Tất cả đều cười. Ông Minh cầm tấm ảnh rất lâu, đặt cạnh lá thư cũ. Ông quay lại chiếc nút khởi động, vẫn chỉ là nút đỏ bình thường. Nhưng với ông, nó nhắc về trách nhiệm, sự thận trọng và lòng can đảm thầm lặng.

    Câu chuyện nhắc nhở: đôi khi lòng can đảm không phải là làm điều phi thường, mà là dám dừng lại khi mọi người đang thúc giục tiến lên. Và trong một thế giới mọi thứ bị quyết định quá nhanh, điều quý giá nhất là khả năng chậm lại đủ lâu để lắng nghe sự thật đang khẽ gõ cửa.

  • Bố ở trong cái tủ quần áo to đùng kia kìa.” Tôi cứ tưởng con bé chỉ nói linh tinh… cho đến khi câu nói tiếp theo của nó khiến tôi lạnh sống lưng.

    Tôi sững người mất một lúc, rồi bật cười vỗ lưng con.

    “Nói bậy nào, bố đi công tác hai tháng nay rồi, tuần trước còn gửi gấu bông về cho con cơ mà.”

    “Nhưng con nhìn thấy bố mà.”

    Giọng Đóa Đóa đè rất thấp, như sợ ai đó nghe thấy.

    “Bố ở trong tủ quần áo.”

    Tôi ngồi xổm xuống nhìn con bé, muốn tìm chút dấu vết của một trò đùa dai trên gương mặt nó.

    Không có.

    Vẻ mặt con bé cực kỳ nghiêm túc, thậm chí còn mang chút tủi thân.

    “Đêm con dậy đi vệ sinh, thấy bố từ phòng của bố mẹ đi ra.”

    “Bố xuống bếp uống nước, thấy con thì bảo là đang chơi trốn tìm.”

    “Bố bảo con phải giữ bí mật.”

    Đóa Đóa bẻ ngón tay đếm, “Con đếm rồi, bố bảo con giữ bí mật sáu mươi ngày rồi.”

    Sáu mươi ngày.

    Lâm Thịnh rời khỏi nhà, đúng tròn sáu mươi ngày.

    Trên đường lái xe về, tay tôi siết chặt vô lăng đến mức các khớp ngón tay trắng bệch.

    Đóa Đóa ngồi trong ghế an toàn, lẩm nhẩm hát bài hát học ở trường mẫu giáo, hoàn toàn không biết câu nói vừa rồi của mình giống như một quả bom.

    Tôi tự nhủ đừng suy nghĩ lung tung.

    Trẻ con không phân biệt được giấc mơ và hiện thực, có lẽ con bé nằm mơ thấy bố về.

    Nhưng con bé lại nói “xuống bếp uống nước”.

    Nói “trốn tìm”.

    Nói “sáu mươi ngày”.

    Một đứa trẻ năm tuổi không thể bịa ra một lời nói dối chi tiết đến thế.

    Về đến nhà, tôi để Đóa Đóa ngồi xem hoạt hình ngoài phòng khách.

    Rồi một mình bước vào phòng ngủ chính.

    Chiếc tủ quần áo nằm ở góc tường, rộng hai mét, thiết kế cao chạm trần, cánh cửa lùa màu nâu sẫm đóng kín bưng.

    Chiếc tủ này do Lâm Thịnh tìm thợ đóng riêng lúc sửa nhà, bảo là phải làm rộng và sâu hơn để treo được áo khoác dáng dài.

    Lúc đó tôi còn khen anh ta chu đáo.

    Bây giờ nhìn cánh cửa này, đột nhiên tôi thấy có gì đó không ổn.

    Tôi vươn tay, đặt lên tay nắm cửa.

    Do dự vài giây, tôi kéo ra.

    Bên trong treo đầy quần áo, bên trái là của tôi, bên phải là của Lâm Thịnh.

    Những ngăn kéo bên dưới vẫn gọn gàng, chẳng khác gì ngày thường.

    Không có gì cả.

    Tôi thở phào nhẹ nhõm, lại tự thấy mình thật nực cười.

    Trong tủ làm sao có thể giấu người được? Đây đâu phải phim kinh dị.

    Đóng cửa tủ lại, tôi lắc đầu.

    Chắc là dạo này mệt mỏi, áp lực quá nên nghĩ nhiều.

    Sau bữa tối, tôi tắm cho Đóa Đóa.

    Con bé đang nghịch chú vịt nhỏ trong chậu nước, đột nhiên lại thốt ra một câu.

    “Mẹ ơi, có phải bố không thích con nữa rồi không?”

    “Sao con lại nghĩ thế?”

    “Vì lần nào bố ra ngoài cũng lén lút, không chơi với con, toàn đuổi con về ngủ.”

    Đóa Đóa bĩu môi, “Con muốn bố kể chuyện cho con nghe, nhưng bố bảo không được, bảo là mẹ sẽ phát hiện ra.”

    Tay tôi khựng lại trên tóc con.

    “Bố bảo mẹ sẽ phát hiện ra?”

    “Vâng, bố bảo đây là nhiệm vụ bí mật, bị mẹ phát hiện là thất bại.”

    Đóa Đóa thấy tôi không nói gì, liền kéo ống tay áo của tôi.

    “Mẹ ơi, mẹ tức giận à?”

    “Không có.”

    Tôi nặn ra một nụ cười, nhịp tim đã bắt đầu đập loạn xạ.

    Nếu Đóa Đóa bịa chuyện, con bé không thể nói ra câu “bị mẹ phát hiện là thất bại”.

    Đó là logic của người lớn.

    Sau khi dỗ Đóa Đóa ngủ, tôi ngồi trên sofa ngoài phòng khách, không bật đèn.

    Màn hình điện thoại vẫn sáng, là tin nhắn WeChat Lâm Thịnh gửi hai tiếng trước.

    Một bức ảnh chụp cảnh đêm Bến Thượng Hải, kèm dòng chữ: “Mới tan ca, đi dạo một chút. Nhớ hai mẹ con.”

    Bức ảnh rất đẹp, đèn đuốc rực rỡ.

    Tôi mở vòng bạn bè của anh ta lên xem.

    Hai tháng nay, toàn là những hình ảnh đi công tác thường ngày.

    Phòng họp, bữa sáng ở khách sạn, cà phê cửa hàng tiện lợi.

    Địa điểm đều ở Thượng Hải.

    Mọi thứ đều bình thường, bình thường đến mức không có kẽ hở.

    Nhưng lời nói của Đóa Đóa cứ văng vẳng trong đầu tôi, không sao dừng lại được.

    Tôi chần chừ rất lâu, cuối cùng vẫn đứng dậy.

    Bước vào phòng ngủ chính, đóng cửa lại.

    Trong phòng chỉ có ánh sáng lờ mờ từ đèn đường hắt qua cửa sổ.

    Tôi không biết mình đang mong chờ điều gì, hay đang sợ hãi điều gì.

    Tôi chậm rãi bước đến trước chiếc tủ, áp tai vào đó.

    Mặt gỗ lạnh ngắt, áp sát vào má tôi.

    Tôi nín thở.

    Ban đầu không có gì cả, chỉ có tiếng tim tôi đập thình thịch như đánh trống.

    Rồi tôi nghe thấy.

    Rất khẽ, rất khẽ, một nhịp, hai nhịp.

    Giống như có người bên trong đang thay đổi tư thế.

    Tiếng vải cọ xát vào nhau.

    Và cả… tiếng thở.

    Nhịp thở rất nông, cố tình đè thấp, nhưng chắc chắn là có.

    Toàn thân tôi sởn gai ốc.

    Chân không nghe theo sự điều khiển mà lùi lại phía sau, va vào bàn trang điểm, những chai lọ đổ rầm rầm một loạt.

    Tiếng động trong tủ biến mất ngay lập tức.

    Giống như bên đó cũng nín thở.

    Tôi không nhớ mình đã bước ra khỏi phòng ngủ bằng cách nào.

    Chỉ nhớ lúc đóng cửa, tay tôi run lẩy bẩy, chốt cửa phải bấm đến ba lần mới vào khớp.

    Dựa lưng vào cửa, tôi trượt rạp xuống sàn.

    Trong tủ có người.

    Thật sự có người.

    Không phải ảo giác, không phải lời nói mớ của Đóa Đóa.

    Có một người, đang ở trong tủ quần áo nhà tôi, suốt sáu mươi ngày qua.

    Và chồng tôi, Lâm Thịnh, cũng vừa hay rời khỏi nhà đúng sáu mươi ngày.

    Ý nghĩ này vừa nảy ra, tôi cảm thấy toàn bộ ngôi nhà đã thay đổi.

    Những đồ nội thất, bức tường, sàn nhà quen thuộc kia, tất cả đều trở nên xa lạ.

    Giống như có ai đó đã đục một cái lỗ ở nơi tôi không biết, và luôn nhìn trộm tôi.

    Tôi cầm điện thoại lên định gọi.

    Gọi cho ai?

    Báo cảnh sát? Nói rằng chồng tôi đang trốn trong tủ quần áo nhà tôi?

    Cảnh sát chắc sẽ tưởng thần kinh tôi có vấn đề.

    Gọi cho cô bạn thân Hà Vi?

    Cô ấy đang đi công tác ở tỉnh khác, nước xa không cứu được lửa gần.

    Gọi cho mẹ tôi?

    Tim bà không tốt, không thể làm bà hoảng sợ.

    Tôi đặt điện thoại xuống.

    Lấy một cái chăn trên sofa, sang phòng Đóa Đóa, khóa trái cửa lại.

    Ôm chặt đứa con gái đang ngủ say, tôi thức trắng đêm.

    Bất cứ một tiếng động nhỏ nào cũng làm tim tôi đập thót.

    Tiếng máy nén điều hòa chạy ù ù, tiếng ô tô chạy ngang qua dưới lầu, tiếng rèm cửa bay sột soạt vì gió.

    Tôi vểnh tai phân biệt từng âm thanh một – có phải cửa tủ mở rồi không? Có phải có tiếng bước chân không?

    Một đêm trôi qua trong sự tra tấn.

    Trời sáng.

    Khi ánh nắng chiếu vào, nỗi sợ hãi rút đi một chút.

    Nhưng thay vào đó là một cảm xúc khác.

    Chương 2:

    Sự phẫn nộ.

    Nếu người đó thực sự là Lâm Thịnh, anh ta đang giở trò gì?

    Lúc mặc quần áo cho Đóa Đóa, tôi cố gắng tỏ ra bình thường nhất có thể.

    “Mẹ ơi, mắt mẹ đỏ quá.”

    “Mẹ gặp ác mộng thôi, không sao đâu.”

    “Mẹ mơ thấy gì thế?”

    “Mẹ mơ thấy… bánh kem mẹ nướng bị khét.”

    Đóa Đóa cười khúc khích, “Mẹ ngốc quá.”

    Trên đường đưa con đến trường mẫu giáo, tôi thử hỏi thêm vài câu.

    “Đóa Đóa, con bảo bố từ tủ quần áo bước ra, thế bố mặc đồ gì?”

    “Có lúc bố mặc đồ ngủ, có lúc mặc đồ đi làm của bố.”

    “Đồ đi làm? Loại áo sơ mi ấy hả?”

    “Vâng.” Đóa Đóa gật đầu, “Còn thắt cà vạt nữa.”

    Thắt cà vạt trong tủ quần áo?

    “Bố ra khỏi tủ thì làm những gì?”

    “Xuống bếp ăn đồ ăn, đi vệ sinh.” Đóa Đóa ngẫm nghĩ, “Có một lần con thấy bố ra phòng khách dùng điện thoại.”

    “Dùng điện thoại của ai?”

    “Con không biết, tối quá không nhìn rõ.”

    Tôi đưa Đóa Đóa qua cổng trường mẫu giáo, nhìn con bé nhảy chân sáo chạy vào lớp.

    Rồi ngồi lại vào xe, thẫn thờ một lúc.

    Có hai việc tôi phải xác nhận.

    Thứ nhất, người trong tủ rốt cuộc có phải là Lâm Thịnh hay không.

    Thứ hai, nếu đúng là anh ta, tại sao anh ta lại làm như vậy.

    Tôi không đến công ty mà xin nghỉ làm.

    Lái xe thẳng đến khu chợ điện tử ở phía nam thành phố.

    “Tôi muốn loại camera kết nối được với điện thoại, càng nhỏ càng tốt.”

    Nhân viên lấy ra ba mẫu cho tôi chọn.

    Tôi chọn cái nhỏ nhất, chỉ nhỉnh hơn hạt đậu phộng một chút, có nam châm hút và quay được ban đêm.

    Thanh toán xong, tôi ngồi trong xe mười phút, học cách kết nối ứng dụng và cài đặt cảnh báo chuyển động.

    Rồi lái xe về nhà.

    Trước khi bước vào cửa, tôi đứng ngoài một lúc lâu.

    Tôi đang sợ cái gì chứ?

    Đây là nhà của tôi.

    Đẩy cửa bước vào, mọi thứ yên ắng. Phòng khách ngăn nắp, bếp núc sạch sẽ.

    Ánh nắng chan hòa, trên giá để giày chỉ có giày của tôi và Đóa Đóa.

    Một ngôi nhà hoàn toàn bình thường.

    Tôi hít sâu một hơi, bước vào phòng ngủ chính.

    Tủ quần áo đóng chặt.

    Không có bất kỳ âm thanh nào.

    Tôi hành động thật nhanh, gắn camera vào mặt sau của bức tranh trang trí phía trên tủ đầu giường đối diện.

    Chỉnh góc quay hai lần, đảm bảo có thể thu được toàn bộ tủ quần áo và một nửa căn phòng.

    Mở điện thoại xác nhận hình ảnh rõ nét, cài đặt cảnh báo chuyển động.

    Tôi lùi ra khỏi phòng ngủ, đóng cửa lại.

    Sau đó tôi vào bếp.

    Mở tủ lạnh.

    Sáu hộp sữa chua mua tuần trước, còn ba hộp.

    Tôi và Đóa Đóa mới uống tổng cộng hai hộp.

    Thiếu một hộp.

    Trứng gà, mua mười hai quả, dùng bốn quả để xào rau. Lẽ ra phải còn tám quả.

    Tôi đếm lại.

    Sáu quả.

    Thiếu hai quả.

    Trên giá để bát đĩa, có một cái bát đặt không đúng chỗ. Tôi có thói quen úp bát xuống, nhưng cái bát này ngửa lên, bên trong còn một vệt nước chưa khô.

    Tôi đứng giữa nhà bếp, sóng lưng từng cơn lạnh buốt.

    Có người đang sử dụng nhà bếp của tôi.

    Vào lúc tôi không có nhà.

    Buổi trưa tôi ăn tạm chút bánh quy, ngồi ở phòng khách chờ đợi.

    1 giờ 43 phút chiều, điện thoại rung lên.

    Ứng dụng camera báo có thông báo: Phát hiện chuyển động.

    Tôi bấm vào xem.

    Cánh cửa lùa bên trái của tủ quần áo, từ từ trượt ra một khe hở.

    Rộng khoảng hai mươi cm.

    Một bàn tay thò ra.

    Tôi phóng to màn hình, chằm chằm nhìn vào bàn tay đó.

    Những ngón tay thon dài, trên cổ tay đeo một chiếc đồng hồ mặt đen.

    Là chiếc Tissot tôi tặng Lâm Thịnh vào dịp lễ Tình nhân năm ngoái.

    Bàn tay đó dừng lại bên ngoài vài giây, như đang thăm dò điều gì đó.

    Rồi thụt vào.

    Cửa tủ lại đóng lại.

    Toàn bộ quá trình chưa đến mười lăm giây.

    Tôi nhìn màn hình điện thoại, không nói được lời nào.

    Là Lâm Thịnh.

    Thật sự là anh ta.

    Chồng tôi, bố của Đóa Đóa, giám đốc dự án của công ty công nghệ – Lâm Thịnh.

    Nói là đi công tác Thượng Hải ba tháng, thực chất là trốn trong tủ quần áo nhà mình suốt sáu mươi ngày.

    Trong khi tôi ngày ngày nấu nướng, dọn dẹp, ngủ nghỉ, tắm rửa trong ngôi nhà này.

    Anh ta lại ở trong cái tủ cách tôi chỉ ba mét.

    Nhìn tôi, hoặc nghe tôi.

    Điện thoại trượt khỏi tay, rơi uỵch xuống bàn trà.

    Tôi không khóc, cũng không hét.

    Chỉ thấy dạ dày quặn lên, muốn nôn.

    Thật kinh tởm.

    Không còn là sự sợ hãi nữa, mà là sự tởm lợm trào ra từ tận trong xương tủy.

    Điện thoại reo.

    Cuộc gọi từ mẹ chồng tôi, Triệu Tú Lan.

    Tôi nhìn chằm chằm vào cái tên trên màn hình mất ba giây rồi bắt máy.

    “Tô Vãn, hôm nay conkhông đi làm à?”

    Giọng bà ta mang vẻ dò xét hờ hững.

    “Con xin nghỉ, người hơi mệt.”

    “Ồ, ở nhà một mình à?”

    “Vâng.”

    “Hôm qua mẹ qua nhà hai đứa một chuyến, mang cho Đóa Đóa ít bánh.” Triệu Tú Lan khựng lại một chút, “Con không có nhà, mẹ tự lấy chìa khóa mở cửa.”

    “Con biết rồi, Đóa Đóa có kể với con.”

    “Con bé đó đúng là lẻm mép.” Triệu Tú Lan cười một tiếng.

    “Mẹ, mẹ còn nói gì với con bé nữa không?”

    “Nói gì là nói gì?”

    “Đóa Đóa bảo mẹ nói với con bé, nếu không có con, Lâm Thịnh có thể sống tốt hơn.”

    Đầu dây bên kia im lặng hai giây.

    “Trẻ con nghe nhầm thôi, sao mẹ lại nói kiểu đấy được.” Giọng Triệu Tú Lan đổi khác, mang theo một tia mất kiên nhẫn.

    “Cô đừng có trẻ con nói gì cũng tin, đứa trẻ năm tuổi thì biết cái gì.”

    “Đúng vậy, trẻ con năm tuổi thì biết cái gì.” Tôi lặp lại lời bà ta.

    Nhưng trong lòng lại nghĩ: Trẻ con năm tuổi không biết nói dối, nhưng người lớn thì biết.

    Cúp điện thoại, tôi nhìn cánh cửa tủ đóng im lìm trên màn hình camera.

    Chương 3:

    Triệu Tú Lan biết.

    Hôm qua bà ta đến nhà, không phải để đưa bánh.

    Mà là để làm việc khác.

    Có lẽ là để tiếp tế đồ ăn cho người trong tủ.

    Tôi mở lịch trên điện thoại, lật xem lại ghi chép hai tháng gần đây.

    Triệu Tú Lan đã đến đây bốn lần.

    Lần nào cũng vào lúc tôi đi làm, Đóa Đóa ở trường mẫu giáo.

    Lần nào cũng không báo trước cho tôi.

    Trước đây tôi cứ nghĩ bà ta qua dọn dẹp nhà cửa, bổ sung chút đồ dùng sinh hoạt.

    Bây giờ nghĩ lại, lượng thức ăn vơi đi có lẽ không phải vì Triệu Tú Lan lấy đồ ăn thừa mang về.

    Mà là vì bà ta mang đồ vào.

    Mang cho người trong tủ.

    Buổi chiều trên đường đi đón Đóa Đóa tan học, tôi lại nhận được điện thoại của Lâm Thịnh.

    “Ninh Ninh, sao hôm nay em không đi làm? Anh gọi điện đến cơ quan em hỏi rồi.” Giọng anh ta có vẻ quan tâm nhưng lại lẫn theo chút căng thẳng nhỏ xíu.

    Tôi nắm chặt vô lăng.

    Anh ta gọi đến cơ quan tôi hỏi sao?

    “Em hơi sốt, xin nghỉ một ngày.”

    “Đã đi viện khám chưa? Hay để anh bảo mẹ sang chăm em nhé?”

    “Không cần đâu.”

    “Em ở nhà một mình anh không yên tâm…”

    “Em nói không cần.”

    Giọng tôi cứng hơn bình thường một chút.

    Đầu dây bên kia im lặng một thoáng.

    “Sao thế? Không vui à?”

    “Không, chỉ là đau đầu, không muốn nói chuyện.”

    “Thế em nghỉ ngơi sớm đi, anh cúp đây.”

    Cúp máy, tôi nhìn con gái ở ghế sau qua gương chiếu hậu.

    Con bé đang chơi với con thỏ nhồi bông, không để ý đến tôi.

    “Đóa Đóa, hôm nay có ai gọi điện cho con không?”

    “Không ạ.”

    “Thế bố thì sao? Bố có gọi vào đồng hồ thông minh của con không?”

    Đóa Đóa nghiêng đầu suy nghĩ, “Hôm qua bố có gọi, hôm nay thì không.”

    “Hôm qua bố nói gì?”

    “Bố hỏi mẹ đang làm gì, có ai đến nhà không.”

    Tay tôi khẽ run lên.

    “Con trả lời thế nào?”

    “Con bảo mẹ đang nấu cơm, không có ai đến, chỉ có bà nội đến thôi.”

    “Bố còn nói gì nữa không?”

    “Bố bảo con ngoan, đừng nói với mẹ chuyện bố gọi điện.” Đóa Đóa bĩu môi, “Nhưng con thấy không đúng, mẹ cũng muốn nghe điện thoại của bố mà.”

    Tôi nhìn con bé qua gương chiếu hậu mỉm cười, một nụ cười mà khóe miệng cũng đang co giật.

    “Lần sau bố gọi điện, con đều phải nói cho mẹ biết nhé.”

    “Vâng ạ.”

    Về đến nhà, tôi kiểm tra nhật ký cuộc gọi trên điện thoại của mình.

    Không có lịch sử gọi cho đồng hồ của Đóa Đóa.

    Nhưng Đóa Đóa nói anh ta có gọi.

    Chỉ có một khả năng – anh ta đã dùng điện thoại của tôi để gọi, sau đó xóa lịch sử.

    Vào lúc tôi đang ngủ.

    Điều này có nghĩa là anh ta không chỉ ở lỳ trong tủ.

    Anh ta có thể tự do ra vào.

    Có thể lấy điện thoại của tôi.

    Có thể xóa nhật ký cuộc gọi.

    Thậm chí có thể đã xem WeChat, tin nhắn, và tất cả nội dung trò chuyện của tôi.

    Một luồng khí lạnh chạy dọc từ lòng bàn chân lên.

    Tôi hoàn toàn không có sự riêng tư trong ngôi nhà này.

    Trong khi tôi cứ đinh ninh anh ta đang ở Thượng Hải cách đây hơn một ngàn cây số.

    Ăn tối xong, tôi dỗ Đóa Đóa đi ngủ.

    Con bé nhắm mắt, nhỏ giọng hỏi một câu.

    “Mẹ ơi, khi nào thì bố ra khỏi tủ thế ạ?”

    “Sắp rồi con.”

    Đóa Đóa rất nhanh đã chìm vào giấc ngủ.

    Tôi nhẹ nhàng bước ra khỏi phòng con, đứng ngoài hành lang.

    Cửa phòng ngủ chính chỉ cách đó ba bước chân.

    Tôi bước tới, không đẩy cửa.

    Đối diện với cánh cửa gỗ, tôi dùng giọng nói chỉ đủ cho mình tôi nghe thấy.

    “Lâm Thịnh.”

    Dừng một nhịp.

    “Tôi biết anh đang ở bên trong.”

    “Tôi không biết anh và mẹ anh đang diễn vở kịch gì.”

    “Nhưng tôi không sợ anh đâu.”

    Nói xong, tôi quay người bước đi.

    Không chờ hồi đáp, cũng không muốn nghe.

    Ra đến phòng khách, tôi lấy điện thoại ra, liếc nhìn màn hình camera.

    Cánh cửa tủ hé ra một khe nhỏ.

    Rồi lại đóng lại.

    Anh ta đã nghe thấy.

    Trò chơi đã thay đổi rồi.

    Sáng hôm sau, tôi vẫn đưa Đóa Đóa đi mẫu giáo như bình thường.

    Lần này tôi gọi điện trước cho Hà Vi.

    “Vi Vi, bao giờ cậu về?”

    “Ngày mốt, sao thế? Nghe giọng cậu lạ lắm.”

    “Cậu về rồi nói, chuyện của Lâm Thịnh.”

    “Hai người cãi nhau à?”

    “Còn nghiêm trọng hơn cãi nhau.”

    Hà Vi không gặng hỏi thêm, “Tớ sẽ đổi vé, tối nay về luôn. Cậu gửi Đóa Đóa sang nhà mẹ tớ trước đi, đừng có một mình chịu đựng.”

    “Được.”

    Cúp máy, tôi lái xe đến công ty của Lâm Thịnh.

    Công ty công nghệ Thịnh Viễn, nằm ở tầng mười bảy tòa nhà văn phòng, là một công ty internet quy mô vừa, Lâm Thịnh làm quản lý dự án bộ phận dữ liệu.

    Cô bé lễ tân nhận ra tôi.

    “Chị Lâm, lâu lắm không thấy chị đến.”

    “Chị muốn tìm Lâm Thịnh một chút.”

    “Anh Lâm chuyển công tác sang chi nhánh Thượng Hải rồi mà chị?” Lễ tân lật lật danh sách trên máy tính, “Đi từ đầu tháng ba, đến nay cũng được hai tháng rưỡi rồi.”

    “Đúng rồi, chị muốn tìm ít đồ của anh ấy. Văn phòng của anh ấy còn vào được không?”

    “Đang khóa chị ạ, để em hỏi phòng hành chính giúp chị.”

    Người bên hành chính dẫn tôi lên tầng mười bảy.

    Văn phòng của Lâm Thịnh nằm ở cuối hành lang, cửa khóa, qua lớp kính bên hông có thể nhìn thấy bên trong.

    Màn hình máy tính trên bàn đen ngòm, giá tài liệu trống trơn.

    Chậu cây trầu bà ở góc phòng đã vàng úa một nửa, đất trong chậu khô nứt nẻ.

    Hơn hai tháng không ai chăm sóc.

    Nếu Lâm Thịnh thực sự được công ty cử đi Thượng Hải làm dự án quan trọng, trước khi đi anh ta sẽ không dọn dẹp văn phòng sạch sẽ đến mức này.

    Ít nhất cũng sẽ nhờ đồng nghiệp tưới cây.

    “Trước khi anh Lâm đi Thượng Hải, có biểu hiện gì bất thường không em?” Tôi hỏi người bên hành chính.

    “Dạ…” Cô ấy nghĩ ngợi, “Cũng hơi đột ngột chị ạ, hôm trước vẫn còn đang họp, hôm sau đã bảo là chuyển đi rồi. Do sếp Triệu ký duyệt.”

    Chương 4:

    “Quan hệ giữa sếp Triệu và anh ấy thế nào?”

    “Khá tốt ạ, sếp Triệu rất trọng dụng anh ấy.”

    Tôi muốn tìm sếp Triệu, nhưng được báo là hôm nay sếp đi vắng.

    Ra khỏi tòa nhà văn phòng, tôi ngồi trong xe tra cứu vài thứ.

    Đầu tiên là mở ứng dụng ngân hàng, kiểm tra lịch sử tiêu dùng thẻ tín dụng của Lâm Thịnh.

    Tôi có quyền sử dụng thẻ phụ của anh ta, nên có thể xem được sao kê.

    Các khoản chi tiêu trong hai tháng qua đều tập trung ở Thượng Hải.

    Khách sạn, nhà hàng, cửa hàng tiện lợi.

    Trông có vẻ đúng là một người đang sống ở Thượng Hải thật.

    Nhưng tôi nhìn kỹ lại các con số.

    Khách sạn mỗi ngày 328 tệ, không sai một ngày nào.

    Cửa hàng tiện lợi tiêu từ 45 đến 50 tệ vào khoảng 9 rưỡi tối mỗi ngày.

    Nhà hàng thì loanh quanh khu vực đường Nguyệt Hà.

    Quá quy củ.

    Một người thực sự đi công tác xa không thể ngày nào cũng ở một khách sạn cùng mức giá, không thể tối nào 9 rưỡi cũng đi đúng một cửa hàng tiện lợi.

    Trừ khi những khoản chi tiêu này là giả mạo.

    Nhờ người quẹt hộ, hoặc dùng cách nào đó để tạo ra giao dịch từ xa.

    Tôi chụp màn hình lưu lại toàn bộ dữ liệu.

    Sau đó, tôi lại tra cứu tiền điện nước và khí đốt.

    Từ tháng ba, tiền nước tăng 18%, tiền điện tăng 25%, khí đốt tăng 20%.

    Lượng sử dụng của hai người lớn và một trẻ nhỏ trước đây, bây giờ trên danh nghĩa chỉ còn tôi và Đóa Đóa.

    Chi phí không giảm mà còn tăng.

    Con số không biết nói dối.

    Trong nhà luôn có người thứ ba.

    Buổi chiều lúc tôi đi đón Đóa Đóa, lại chạm mặt một bất ngờ.

    Triệu Tú Lan đang đứng trước cổng trường mẫu giáo.

    “Tô Vãn.” Bà ta nhìn thấy tôi, trên mặt nở nụ cười giả lả.

    “Mẹ? Sao mẹ lại đến đây?”

    “Mẹ nhớ Đóa Đóa quá, đến đón con bé về nhà ăn cơm.”

    “Không cần đâu, con mua đồ ăn xong hết rồi.”

    Nụ cười của Triệu Tú Lan khựng lại.

    “Cô xem kìa, tôi làm bà nội muốn ăn bữa cơm với cháu gái cũng không được sao?”

    Tôi không nhượng bộ.

    “Hôm khác đi mẹ, hôm nay Đóa Đóa có bài tập vẽ phải làm.”

    Triệu Tú Lan nhìn tôi, nụ cười dần tắt.

    “Tô Vãn, mẹ nói với con chuyện này.”

    “Mẹ nói đi.”

    “Lâm Thịnh ở Thượng Hải rất vất vả, cô một mình ở nhà cũng cáng đáng không nổi. Mẹ nghĩ hay là để Đóa Đóa sang ở với mẹ một thời gian, giảm bớt gánh nặng cho cô.”

    Tôi nắm tay Đóa Đóa, các ngón tay siết chặt lại.

    “Không cần đâu, con tự chăm sóc con bé được.”

    “Cô suốt ngày đi làm, ném con bé ở trường mẫu giáo cả ngày, đón về cũng chẳng ngó ngàng tới…”

    “Mẹ,” tôi ngắt lời bà ta, “Đóa Đóa là con gái con, con chăm sóc con bé là việc của con.”

    Sắc mặt Triệu Tú Lan thay đổi.

    “Cô có ý gì? Tôi là bà nội nó, tôi không có quyền quản à?”

    “Con không có ý đó, ý con là mẹ không cần phải lo lắng.”

    Đóa Đóa ngẩng đầu nhìn hai chúng tôi, hơi căng thẳng kéo gấu áo tôi.

    Triệu Tú Lan lườm tôi vài giây, “Được, vậy cô tự lo cho tốt đi.”

    Nói rồi bà ta quay lưng bước đi.

    Đi được vài bước lại quay đầu lại.

    “À phải rồi, dạo này ở nhà có gì bất thường không?”

    Câu nói này làm tôi sởn gai ốc.

    “Không có, mọi thứ đều bình thường.”

    “Thế thì tốt.”

    Triệu Tú Lan đi khuất, tôi đứng tại chỗ, nhìn bóng bà ta biến mất ở ngã tư.

    Bà ta đang dò xét tôi.

    Bà ta muốn mang Đóa Đóa đi, vì Đóa Đóa biết bí mật của Lâm Thịnh.

    Bọn họ sợ Đóa Đóa sẽ tiếp tục kể với tôi.

    Về đến nhà, tôi ngồi cùng Đóa Đóa vẽ tranh.

    Con bé vẽ một bức tranh, trên đó có một cái tủ rất lớn, trong tủ vẽ một người.

    Bên cạnh hình người đó có chú thích hai chữ viết nguệch ngoạc: Bố.

    Tôi nhìn bức tranh đó, trầm ngâm rất lâu.

    “Đóa Đóa, bức tranh này cho mẹ được không?”

    “Vâng ạ.”

    Tôi gấp gọn bức tranh, cất vào túi xách.

    Tám giờ tối, Đóa Đóa đang ngồi ngoài phòng khách đọc truyện tranh.

    Điện thoại của Lâm Thịnh gọi tới.

    “Ninh Ninh, mẹ bảo hôm nay đến đón Đóa Đóa mà em không cho đón à?”

    “Đóa Đóa có bài tập, em tự trông được rồi.”

    “Em cứ để mẹ giúp một tay đi, mẹ cũng có lòng tốt mà.”

    “Bà ấy có lòng tốt gì em rõ lắm.”

    “Em có ý gì?” Giọng Lâm Thịnh lạnh đi một độ.

    “Hôm qua mẹ anh nói với Đóa Đóa, nếu không có em thì anh có thể sống tốt hơn. Anh thấy câu đó có hợp lý không?”

    Đầu dây bên kia im lặng.

    “Mẹ anh không có ý đó…”

    “Thế là ý gì?”

    “Được rồi được rồi, để anh nói lại với mẹ.” Lâm Thịnh đáp qua quýt, rồi chuyển chủ đề.

    “Dạo này ở nhà không có chuyện gì chứ?”

    “Không có.”

    “Cửa nẻo khóa chốt vẫn tốt chứ?”

    “Vẫn tốt, anh hỏi chuyện này làm gì?”

    “Anh hỏi bâng quơ thế thôi, em ở nhà một mình trông con nhớ chú ý an toàn.”

    Câu này thốt ra từ miệng anh ta, nghe thật sự nực cười.

    Trong nhà tôi đang giấu một kẻ, kẻ đó chính là anh.

    Anh bảo tôi chú ý an toàn?

    “Em rất an toàn.” Tôi nói, “Anh cũng thế.”

    Cúp điện thoại, tôi mở ứng dụng camera.

    Từ hai đến ba giờ chiều hôm nay, cửa tủ quần áo đã mở ra một lần.

    Băng ghi hình cho thấy nửa thân trên của một người từ trong tủ thò ra.

    Mặc áo thun xám, tóc ngắn, góc nghiêng.

    Là Lâm Thịnh, không còn nghi ngờ gì nữa.

    Anh ta ra khỏi tủ, đứng dậy vận động gân cốt một chút.

    Sau đó bước đến cửa sổ, hé rèm nhìn ra ngoài một cái.

    Tiếp đến là vào nhà vệ sinh – camera không quay được nhà vệ sinh, nhưng có thể nghe thấy tiếng nước.

    Khoảng mười phút sau, anh ta quay lại trước tủ, kéo ngăn kéo lục lọi đồ đạc.

    Chương 5:

    Rồi lại chui vào trong.

    Đóng cửa tủ lại.

    Toàn bộ quá trình động tác rất thành thục, như thể đã làm hàng trăm lần.

    Tôi lưu đoạn video đó thành ba bản. Một bản trong điện thoại, một bản trên đám mây, một bản gửi cho Hà Vi.

    Hà Vi nhắn lại ngay lập tức: CÁI QUÁI GÌ THẾ NÀY???

    Tôi nhắn lại: Ngày mai gặp rồi nói.

    Sau đó tôi tắt điện thoại.

    Đứng giữa phòng khách, nhìn về phía phòng ngủ chính.

    Bây giờ tôi đã có bằng chứng rồi.

    Nhưng tôi không vội lật bài ngửa.

    Tôi cần biết rốt cuộc anh ta đang âm mưu chuyện gì.

    Trốn trong tủ quần áo suốt sáu mươi ngày, dựng lên màn kịch đi công tác giả, cả ngày giám sát tôi.

    Không thể không có lý do.

    Đằng sau chuyện này chắc chắn còn điều gì đó mà tôi chưa biết.

    Trưa hôm sau, Hà Vi từ tỉnh khác vội vã chạy về.

    Ngồi trong xe tôi, xem xong đoạn video đó, mặt cô ấy xám ngoét.

    “Tô Vãn, chồng cậu bị bệnh à?”

    “Có khi có bệnh thật.”

    “Báo cảnh sát, báo ngay đi.”

    “Báo thế nào? Chồng tớ ở trong chính nhà của tớ?”

    Hà Vi nghẹn họng.

    “Vậy cậu định làm thế nào?”

    “Phải tra xem tại sao anh ta lại làm vậy đã.” Tôi khởi động xe.

    “Tớ đã đến công ty anh ta, bên đó bảo anh ta được điều sang chi nhánh Thượng Hải, nhưng tình trạng văn phòng không giống như chuyển công tác bình thường.”

    “Cậu nghĩ anh ta căn bản không đi Thượng Hải?”

    “Lịch sử quẹt thẻ tín dụng quá giả.” Tôi đưa ảnh chụp màn hình cho cô ấy.

    Hà Vi xem từng mục, càng xem càng thấy không đúng.

    “Cùng một giờ, cùng một số tiền mỗi ngày? Đây là robot quẹt thẻ à.”

    “Nên anh ta vẫn luôn ở nhà. Hoàn toàn không có chuyến công tác nào, cũng không có Thượng Hải nào hết.”

    “Vậy anh ta ở lỳ trong tủ quần áo hai tháng trời? Sống kiểu gì?”

    “Mẹ anh ta định kỳ đến đưa đồ. Đồ ăn trong tủ lạnh cũng hao hụt. Chắc chắn anh ta tranh thủ lúc tớ không có nhà để ra ngoài hoạt động, ăn uống, tắm rửa.”

    “Vậy ban ngày cậu đi làm, anh ta có cả đống thời gian.” Hà Vi càng nghĩ càng thấy sợ.

    “Đợi đến tối cậu về thì anh ta lại chui vào đó?”

    “Đúng thế. Đóa Đóa có lúc nửa đêm tỉnh dậy thấy anh ta ra ngoài uống nước.”

    Hà Vi bụm miệng.

    “Chồng cậu là kẻ biến thái à?”

    “Tớ không biết anh ta là cái loại gì.” Tôi nắm chặt vô lăng, khớp ngón tay lại trắng bệch.

    “Nhưng tớ biết chuyện này không chỉ một mình anh ta có thể làm được. Triệu Tú Lan chắc chắn có nhúng tay vào.”

    “Mẹ chồng cậu?”

    “Dạo này bà ta có biểu hiện bất thường, cứ đòi đón Đóa Đóa đi, còn chặn tớ ở cổng trường mẫu giáo nữa. Vì Đóa Đóa đã kể chuyện này cho tớ, bà ta sợ.”

    Hà Vi im lặng một lúc.

    “Ninh Ninh, cậu có nghĩ đến một khả năng này không?”

    “Cậu nói đi.”

    “Bọn họ đang thu thập điểm yếu của cậu.”

    Tôi quay sang nhìn cô ấy.

    “Cậu thử nghĩ xem, Lâm Thịnh trốn ở nhà, có thể thấy mọi thứ cậu làm. Cậu giặt quần áo bao nhiêu lần, mấy giờ đi ngủ, có ai đến nhà không.”

    “Nếu cậu có bất kỳ hành vi ‘không đứng đắn’ nào, anh ta sẽ có bằng chứng.”

    “Rồi sao nữa?”

    “Rồi ly hôn, giành quyền nuôi con, chia tài sản.” Hà Vi nhấn mạnh từng chữ, “Chẳng phải mẹ chồng cậu luôn chướng mắt cậu sao? Nếu có thể tìm được bằng chứng cậu ngoại tình hoặc bỏ bê con cái…”

    “Tớ không ngoại tình.” Tôi lập tức nói.

    “Tớ biết, nhưng có thể họ đang đợi cậu mắc sai lầm, hoặc tạo cơ hội để cậu mắc sai lầm.”

    Tôi không nói gì.

    Suy đoán của Hà Vi giống như một gáo nước lạnh dội xuống.

    Nếu họ thực sự đang lên kế hoạch ly hôn, đang thu thập bằng chứng bất lợi cho tôi.

    Vậy thì sáu mươi ngày ẩn nấp kia hoàn toàn hợp lý.

    “Tớ phải đi kiểm tra một thứ.” Đột nhiên tôi bẻ lái.

    “Kiểm tra gì?”

    “Xe của Lâm Thịnh.”

    Xe của Lâm Thịnh vẫn đỗ dưới hầm để xe của khu chung cư, anh ta nói đã đỗ sẵn trước khi đi công tác.

    Tôi có chìa khóa dự phòng.

    Hầm xe ánh sáng mờ ảo, chiếc Volkswagen Passat màu đen của Lâm Thịnh đỗ đúng chỗ cố định, thân xe phủ một lớp bụi.

    Mở cửa xe, bên trong sạch sẽ đến mức không bình thường.

    Trước đây xe của Lâm Thịnh lúc nào cũng vứt đồ lung tung, chai nước khoáng, khăn giấy, dây sạc rải rác khắp nơi.

    Bây giờ không có gì cả, giống như đã bị ai đó dọn dẹp.

    Tôi mở hộp đựng găng tay.

    Bên trong có một phong bì giấy xi măng.

    Tôi lấy ra, mở xem.

    Là một xấp tài liệu in.

    Dòng tiêu đề ở trang đầu tiên làm máu tôi dồn hết lên não.

    《Thỏa thuận ly hôn (Bản thảo)》.

    Ngày ghi là 27 tháng 2 năm nay.

    Lâm Thịnh “đi công tác” vào ngày 1 tháng 3.

    Nghĩa là, anh ta đã soạn xong thỏa thuận ly hôn từ hai ngày trước khi rời đi.

    Tôi lướt nhanh nội dung.

    Nhà cửa thuộc về nhà trai.

    Quyền nuôi con gái thuộc về nhà trai.

    Nhà gái nhận được 15 vạn tệ tiền đền bù.

    15 vạn.

    Căn nhà này trả trước 50 vạn, trong đó 30 vạn là tiền của bố mẹ tôi. Tiền trả góp hàng tháng hai người cùng gánh suốt năm năm, tôi chịu 60%.

    Anh ta muốn dùng 15 vạn để đuổi tôi đi?

    Trong phong bì còn một tờ giấy viết tay, chữ của Lâm Thịnh.

    Trên đó liệt kê một danh sách –

    “1. Cố định bằng chứng: Nhật ký ra ngoài ban đêm/Thời gian không có nhà/Các mối quan hệ xã hội.

    Việc sinh hoạt của Đóa Đóa do mẹ tiếp quản, tạo thành thói quen.
    Xác nhận sao kê ngân hàng, thay đổi tên sổ đỏ.
    Liên hệ luật sư Lưu, chuẩn bị hồ sơ khởi kiện.
    Giai đoạn ba: Lật bài ngửa.”
    Tôi đọc từng dòng một.

    Mỗi một dòng đều như một nhát dao.

    Anh ta thực sự đang lên kế hoạch ly hôn.

    Anh ta trốn trong tủ quần áo, không phải là phát điên, không phải là trò chơi.

    Là đang thực thi kế hoạch.

    Triệu Tú Lan thường xuyên đến đón Đóa Đóa – là điều số 2, để Đóa Đóa quen với việc sống cùng bà nội.

    Tạo hiện trường giả đi Thượng Hải công tác – là để mọi người tưởng anh ta ở xa, thực chất là ngấm ngầm thu thập bằng chứng.

    Những câu hỏi han tôi dạo này có đi đâu không, có ai đến không – là điều số 1, ghi chép lại hành tung và quan hệ của tôi.

    Chương 6-

    Anh ta muốn chứng minh tôi là một người vợ, một người mẹ không đủ tư cách.

    Sau đó lấy đi toàn bộ nhà cửa và con cái.

    “Suỵt–” Hà Vi đọc xong tờ danh sách đó, hít một ngụm khí lạnh.

    “Tô Vãn, chồng cậu không phải biến thái, mà là rắn độc.”

    Tôi không nói gì, tiếp tục lật tìm.

    Dưới cùng của phong bì còn một tấm danh thiếp.

    Luật sư Lưu Kiến Quốc. Văn phòng luật sư nào đó, chuyên kiện tụng hôn nhân.

    Mặt sau viết một dòng chữ bằng bút chì: Mẹ giới thiệu, tỷ lệ thắng cao, phí tính riêng.

    Luật sư do Triệu Tú Lan giới thiệu.

    Tôi chụp lại toàn bộ, rồi đặt mọi thứ về chỗ cũ.

    Đóng hộp đựng găng tay, đóng cửa xe.

    Đứng trong hầm xe, đột nhiên tôi thấy trời đất quay cuồng.

    Bảy năm.

    Từ lúc yêu đến lúc cưới đến lúc sinh Đóa Đóa, bảy năm.

    Tôi từng nghĩ anh ta chỉ là lạnh nhạt, chỉ là thiếu lãng mạn, chỉ là bị ảnh hưởng từ mẹ anh ta.

    Tôi luôn tìm cớ để bao biện cho anh ta.

    Hóa ra từ đầu đến cuối, trong cuộc hôn nhân này tôi chỉ là một con rối bị dắt mũi.

    Hà Vi ôm lấy tôi từ phía sau.

    “Ninh Ninh, đừng nhịn nữa, khóc ra đi.”

    Tôi không khóc.

    Mắt khô rốc đến phát đau.

    “Không khóc.” Tôi nói.

    “Khóc không giải quyết được gì, anh ta muốn chơi theo kế hoạch, tớ sẽ chơi cùng anh ta.”

    “Điều số 5 trong thỏa thuận ly hôn của anh ta viết gì?”

    “Lật bài ngửa.”

    “Anh ta vẫn chưa đến điều số 5 đúng không?”

    “Nhìn tình hình thì chưa, vẫn đang ở giai đoạn một.”

    “Vậy thì tốt, trước khi anh ta lật bài, tớ sẽ chuẩn bị xong mọi thứ.”

    “Anh ta muốn tớ ra đi tay trắng?”

    “Nằm mơ đi.”

    Ra khỏi hầm xe, ánh nắng có chút chói mắt.

    Tôi nheo mắt nhìn lên bầu trời.

    “Tiếp theo sẽ làm ba việc.” Tôi nói với Hà Vi.

    “Một, tìm luật sư. Không tìm tay luật sư kia của anh ta, tìm người giỏi hơn.”

    “Hai, điều tra xem anh ta thực sự được công ty điều đi Thượng Hải, hay là đã bị sa thải rồi.”

    “Ba, điều tra xem anh ta có người phụ nữ khác không.”

    Hà Vi ngớ người.

    “Cậu nghĩ anh ta ngoại tình?”

    “Anh ta muốn ly hôn với tớ, không thể chỉ vì mẹ anh ta không thích tớ. Thế thì không đáng. Trừ khi bên ngoài đã có người khác.”

    Tôi lấy điện thoại ra, tìm một số liên lạc.

    Chị Trương, vợ của thầy Lưu hồi đại học. Em trai của chị Trương làm thám tử tư.

    Trước đây tôi cứ nghĩ mình sẽ không bao giờ dùng đến mối quan hệ này.

    Bây giờ mới thấy đáng giá.

    Gọi điện qua, tôi nói ngắn gọn yêu cầu.

    Bên kia rất chuyên nghiệp: Ba ngày có kết quả, phí 5.000 tệ.

    “Được.”

    Hà Vi đứng cạnh nói nhỏ: “Để tớ trả khoản này cho.”

    “Không cần, tớ có tiền tiết kiệm.”

    “Cậu… có bao nhiêu?”

    Tôi nhìn cô ấy, không trả lời.

    Điều mà Hà Vi không biết là, những năm qua tôi vẫn luôn lén lút tiết kiệm tiền. Tiếng là lương tháng 8.000 tệ, nhưng thời gian rảnh tôi làm vẽ minh họa và thiết kế đồ họa tự do. Khoản thu nhập này tôi để riêng vào một thẻ, cả Lâm Thịnh và Triệu Tú Lan đều không biết.

    Trong thẻ có 23 vạn tệ.

    Cộng với quỹ nhà ở và một số khoản đầu tư, tổng cộng khoảng 30 vạn.

    Không tính là nhiều, nhưng đủ để cho tôi sự tự tin.

    Tối hôm đó, tôi không về phòng ngủ chính ngủ.

    Tiếp tục chen chúc trong phòng nhỏ với Đóa Đóa.

    Khóa chặt cửa, tôi nhìn màn hình camera.

    1 giờ 17 phút sáng, cửa tủ mở.

    Lâm Thịnh bước hẳn ra ngoài.

    Anh ta mặc áo phông trắng và quần thể thao, tóc hơi dài, gầy đi một vòng so với hai tháng trước.

    Trong màn hình mờ tối, anh ta đứng giữa phòng vươn vai vận động tay chân.

    Sau đó bước ra khỏi phòng ngủ chính.

    Tim tôi thót lên.

    Tôi mở một góc máy khác – buổi chiều tôi cũng lắp một camera ngoài phòng khách, giấu trong bình hoa giả trên kệ tivi.

    Trên màn hình, Lâm Thịnh đi vào bếp.

    Mở tủ lạnh, lấy một hộp sữa, bóc ra uống vài ngụm.

    Lại lấy thêm hai lát bánh mì.

    Sau đó anh ta đi ra phòng khách, ngồi xuống sofa.

    Móc ra một chiếc điện thoại.

    Không phải chiếc anh ta vẫn dùng hàng ngày, là một chiếc khác, màu vàng hồng.

    Kiểu dáng của nữ.

    Anh ta mở khóa rất thành thục, xem vài dòng tin nhắn.

    Khóe miệng hơi cong lên.

    Chương 7:

    Sau đó anh ta làm một việc khiến tôi càng thấy ghê tởm hơn.

    Anh ta bước đến cửa phòng nhỏ.

    Chính là căn phòng tôi và Đóa Đóa đang ngủ.

    Áp tai vào cửa nghe ngóng vài giây.

    Rồi quay người đi vào nhà vệ sinh.

    Mười phút sau, anh ta quay lại phòng ngủ chính, chui vào tủ.

    Cửa tủ đóng lại.

    Mọi thứ trở lại yên tĩnh.

    Tôi nhìn thời gian trên màn hình.

    Từ 1:17 đến 1:42 sáng.

    Hai mươi lăm phút.

    Anh ta hoạt động trong nhà tôi suốt hai mươi lăm phút như một bóng ma.

    Còn tôi và con gái thì ngủ chỉ cách đó một cánh cửa.

    Tôi lưu lại toàn bộ video đêm nay.

    Sau đó gửi cho Hà Vi bốn chữ: Có người phụ nữ khác.

    Hà Vi nhắn lại một chữ: Khốn nạn.

    Sáng hôm sau, tôi đi gặp luật sư.

    Không phải luật sư bình thường, là luật sư Tiêu Bình do chị Trương giới thiệu.

    Chuyên đánh án ly hôn, tỷ lệ thắng nằm trong top ba của thành phố.

    Văn phòng của luật sư Tiêu nằm ở tầng cao nhất của tòa nhà trung tâm thành phố, khu vực tiếp khách được bài trí như một câu lạc bộ cao cấp.

    Bản thân anh ta trạc tứ tuần, đeo kính gọng vàng, nói chuyện không nhanh không chậm, nhưng câu nào cũng sắc bén như dao mổ.

    Tôi bày toàn bộ bằng chứng ra trước mặt anh ta.

    Video camera, ảnh chụp sao kê tiêu dùng, ảnh chụp bản thảo thỏa thuận ly hôn, bảng so sánh hóa đơn điện nước.

    Luật sư Tiêu xem từng thứ một, ánh mắt sau tròng kính ngày càng sáng lên.

    “Cô Tô, cô bắt đầu nghi ngờ từ khi nào?”

    “Sáu ngày trước.”

    “Sáu ngày mà đã chuẩn bị được nhiều thứ thế này?” Anh ta gật đầu, “Cô bình tĩnh hơn hầu hết thân chủ của tôi đấy.”

    “Tôi không có thời gian để hoang mang.”

    “Nói về yêu cầu của cô đi.”

    “Con gái thuộc về tôi, nhà thuộc về tôi, anh ta ra đi tay trắng.”

    Luật sư Tiêu mỉm cười.

    “Trong bản thỏa thuận của chồng cô viết ngược lại đấy.”

    “Nên tôi mới cần anh lật ngược nó lại.”

    “Được.” Luật sư Tiêu giơ ba ngón tay lên.

    “Thứ nhất, đoạn video anh ta trốn trong nhà là bằng chứng cốt lõi. Nó chứng minh anh ta lừa dối dài hạn, xâm phạm quyền được biết và quyền riêng tư của cô, đồng thời chứng minh chuyện đi công tác là giả mạo.”

    “Thứ hai, bản thảo thỏa thuận ly hôn đó cho thấy tính toán có dự mưu. Kết hợp với việc mẹ chồng cô muốn đón đứa trẻ đi, có thể cấu thành hành vi thông đồng giành quyền nuôi con.”

    “Thứ ba, cũng là quan  trọng nhất – nếu chứng minh được anh ta ngoại tình, thì cô sẽ chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc phân chia tài sản và quyền nuôi con.”

    “Cái điện thoại màu vàng hồng kia có đủ không?”

    “Chỉ nhìn video thì không thấy rõ nội dung, cần bằng chứng trực tiếp hơn.” Luật sư Tiêu tựa lưng vào ghế.

    “Tin nhắn, lịch sử thuê phòng, sao kê chuyển khoản, bất kỳ cái nào cũng được.”

    “Tôi đã nhờ người đi điều tra rồi.”

    “Rất tốt.”

    “Ngoài ra,” tôi ngập ngừng một chút, “tôi muốn xác nhận một chuyện. Rốt cuộc anh ta thực sự được công ty cử đi Thượng Hải, hay là đã bị sa thải rồi.”

    “Cô nghi ngờ anh ta thất nghiệp?”

    “Văn phòng của anh ta hai tháng không ai ngó ngàng, cây cối chết khô hết rồi. Chuyển công tác bình thường sẽ không như thế.”

    “Nếu thực tế anh ta đã thất nghiệp thì càng có lợi. Điều đó cho thấy anh ta giấu giếm biến cố lớn của gia đình trong thời gian dài, nền tảng kinh tế lại không ổn định, tranh quyền nuôi con sẽ càng yếu thế.”

    Vừa ra khỏi văn phòng luật sư, tôi nhận được tin nhắn của công ty thám tử.

    “Lâm Thịnh, 33 tuổi. Giám đốc dự án bộ phận dữ liệu công ty công nghệ Thịnh Viễn. Bị công ty sa thải vào ngày 28 tháng 2 năm nay, lý do là vi phạm nghiêm trọng quy chế tài chính của công ty, bị tình nghi biển thủ quỹ dự án. Công ty không báo cảnh sát mà xử lý nội bộ. Hai bên đã ký thỏa thuận bảo mật.”

    “Từ ngày 1 tháng 3, công ty Thịnh Viễn thông báo ra bên ngoài là ‘chuyển sang chi nhánh Thượng Hải’, do tổng giám đốc công ty là ông Triệu chỉ thị, không rõ nguyên nhân.”

    Đọc xong tin nhắn, tôi đứng sững lại nửa phút.

    Bị sa thải.

    Vì tội biển thủ công quỹ.

    Không phải đi công tác, không phải chuyển bộ phận.

    Là bị đuổi việc.

    Sau đó anh ta bịa ra lời nói dối đi Thượng Hải, lừa dối tất cả mọi người, kể cả tôi.

    Công ty bao che cho anh ta, vì sếp Triệu có quan hệ cá nhân với anh ta.

    Điều này đã giải thích được rất nhiều chuyện.

    Tại sao anh ta phải trốn trong nhà – vì anh ta không có nơi nào để đi. Không có việc làm, không thể ra khỏi cửa, ra ngoài sẽ bị lộ.

    Tại sao anh ta phải làm giả hóa đơn tiêu dùng – vì phải duy trì màn kịch đi công tác.

    Tại sao Triệu Tú Lan lại thường xuyên đến nhà – vì bà ta biết con trai mất việc, cần đến để tiếp tế lương thực.

    Chương 8:

    Tại sao họ lại lên kế hoạch ly hôn – vì giấy không gói được lửa, thà ra tay trước, lấy đi những gì cần lấy rồi chuồn.

    Mọi thứ đều xâu chuỗi lại với nhau.

    Nhưng còn một thắc mắc.

    Cái điện thoại màu vàng hồng đó.

    Lúc dùng cái điện thoại đó, anh ta đã cười.

    Cái vẻ mặt đó lâu lắm rồi tôi không thấy trên gương mặt anh ta.

    Tin nhắn thứ hai của công ty thám tử đến vào buổi chiều.

    “Dưới tên Lâm Thịnh có mở một thẻ phụ vào tháng 1 năm nay. Chủ thẻ chính: Trần Dao, 27 tuổi, giám đốc kinh doanh của một công ty môi giới bất động sản.”

    “Hai người liên lạc thường xuyên từ tháng 9 năm ngoái. Không thể lấy được lịch sử WeChat, nhưng nhật ký cuộc gọi cho thấy: từ tháng 9 năm ngoái đến nay, hai bên gọi cho nhau 672 lần. Bắt đầu từ tháng 2 năm nay, lượng điện nước tiêu thụ tại một căn hộ đứng tên Trần Dao phù hợp với mức người sinh sống bình thường.”

    “Đính kèm: Trần Dao là con gái của chị họ Triệu Tú Lan.”

    Đọc đến dòng cuối cùng, tôi suýt ném nát điện thoại.

    Trần Dao là cháu của Triệu Tú Lan.

    Triệu Tú Lan đã biết chuyện này ngay từ đầu.

    Thậm chí – mối quan hệ này chính là do bà ta mai mối.

    Chín tháng.

    Chồng tôi và người đàn bà do mẹ chồng giới thiệu đã dan díu với nhau suốt chín tháng.

    672 cuộc gọi.

     Tôi nhẩm lại, trong chín tháng qua, số lần Lâm Thịnh gọi điện cho tôi cộng lại chưa tới một trăm cuộc.

    Hà Vi khi nhìn thấy những thông tin này đã im lặng rất lâu.

    Sau đó cô ấy nói một câu.

    “Tô Vãn, cậu đừng về nhà một mình.”

    “Tớ không về thì đi đâu?”

    “Mẹ chồng và chồng cậu chẳng phải dạng vừa đâu, nhỡ cậu về không kiềm chế được cảm xúc rồi cãi nhau với họ…”

    “Tớ sẽ không cãi nhau.”

    “Sao cậu biết?”

    “Bởi vì chưa đến lúc phải lật bài.”

    Tôi bình tĩnh đến mức chính mình cũng thấy sợ.

    Có lẽ sự phẫn nộ đã đạt đến đỉnh điểm, nên đâm ra lại không còn cảm giác gì nữa.

    Giống như phần da bị thiêu rụi, đến cảm giác đau cũng mất đi.

    “Luật sư Tiêu nói, cần bằng chứng trực tiếp hơn để chứng minh anh ta ngoại tình. Nhật ký cuộc gọi và thẻ phụ chưa đủ.”

    “Thế phải làm sao?”

    “Đợi. Tối nào anh ta cũng chui ra dùng cái điện thoại đó. Chỉ cần tớ tìm được chỗ giấu điện thoại, là có nhật ký trò chuyện.”

    “Cậu định chui vào tủ tìm à?”

    “Không phải bây giờ. Đợi thời cơ.”

    Tối về nhà, tôi vẫn cư xử như thường.

    Nấu cơm, cho Đóa Đóa ăn, tắm cho con, kể chuyện.

    Đợi con ngủ say, tôi ngồi ngoài phòng khách, mở chiếc laptop mà hai tháng trước Lâm Thịnh để lại.

    Anh ta để ở phòng làm việc trước khi “đi công tác”, bảo là máy tính cũ không dùng nữa.

    Khởi động máy, vào hệ thống.

    Tôi thử mật khẩu ba lần: sinh nhật Đóa Đóa, ngày kỷ niệm ngày cưới, sáu số cuối CMND của anh ta.

    Lần thứ ba thì đúng.

    Màn hình desktop rất sạch, chỉ có vài thư mục.

    “Công việc”, “Ảnh”, “Khác”.

    Tôi mở mục “Khác” trước.

     Trong đó có một file nén cài mật khẩu, tên là “Backup”.

    Tôi đoán thử vài cái mật khẩu đều không đúng.

    Thôi bỏ qua, xem cái khác trước.

    Tôi mở lịch sử duyệt web.

    Đa phần đã bị xóa, nhưng trong bộ nhớ đệm vẫn còn sót lại một chút.

    Tôi nhìn thấy những từ khóa anh ta tìm kiếm vào hồi tháng Hai –

    “Làm thế nào để giành quyền nuôi con”, “Cách lấy bằng chứng vợ ngoại tình”, “Tỷ lệ chia tài sản ly hôn”, “Chuyển nhượng nhà đơn phương”, “Bác sĩ tâm lý giám định tình trạng tâm thần”.

    Dòng cuối cùng khiến tôi khựng lại.

    Giám định tình trạng tâm thần.

    Anh ta từng tìm kiếm cái này.

    Tại sao?

    Tôi tiếp tục lục tìm.

    Trong trang web lưu ở bộ nhớ đệm, tôi tìm thấy phần sót lại của một bài đăng trên diễn đàn –

    “Nếu chứng minh được vợ/chồng có vấn đề về tâm thần, quyền nuôi con gần như 100% thuộc về người còn lại. Cần ít nhất hai báo cáo giám định từ bác sĩ tâm thần…”

    Tôi gập máy tính lại.

    Những ngón tay lạnh buốt.

    Anh ta không chỉ muốn ly hôn.

    Không chỉ muốn lừa lấy nhà và con.

    Chương 9

    Anh ta còn muốn người khác tưởng tôi bị bệnh tâm thần.

    Đó là lý do anh ta trốn trong tủ.

    Nếu tôi phát hiện ra, đi nói với người khác “chồng tôi trốn trong tủ quần áo” –

    Người bình thường ai mà tin?

    Mọi người sẽ nghĩ tôi phát điên rồi.

    Lúc đó đưa ra tờ giám định tâm thần…

    Thái dương tôi giật bần bật.

    Kế hoạch này thâm độc hơn tôi tưởng tượng.

    Không chỉ đơn giản là ly hôn cướp tài sản.

    Là muốn triệt để hủy hoại tôi.

    Làm tôi mất con, mất nhà, mất danh dự, thậm chí mất luôn cả chứng minh mình là người có suy nghĩ bình thường.

    Và kẻ thao túng lại chính là chồng và mẹ chồng tôi.

    Người mà tôi đã chung sống dưới một mái nhà suốt bảy năm trời.

    Đêm đó tôi không ngủ, ngồi xem camera giám sát suốt đêm.

    Hai giờ sáng, Lâm Thịnh chuẩn bị chui ra.

    Lần này anh ta không chỉ ăn uống.

    Anh ta đi đến cửa phòng làm việc, thử vặn tay nắm.

    Cửa khóa – do tôi cố tình khóa lại từ tối.

    Anh ta đứng trước cửa năm giây, rồi quay người bỏ đi.

    Đi ra phòng khách.

    Từ dưới nệm sofa móc ra một chiếc điện thoại.

    Chính là chiếc màu vàng hồng đó.

    Hóa ra anh ta giấu dưới nệm sofa.

    Anh ta ngồi xuống, cúi đầu gõ chữ, gõ ròng rã suốt bảy phút.

    Giữa chừng còn cười hai lần.

    Rồi anh ta nhét điện thoại vào chỗ cũ, chui lại vào tủ.

     Tôi đợi thêm hai mươi phút, chắc chắn anh ta sẽ không ra nữa.

    Tôi rón rén bước ra phòng khách.

    Chỗ nệm sofa, cái thứ hai từ trái sang.

    Tôi thò tay vào, chạm được chiếc điện thoại.

    Lấy ra, tim đập nhanh đến chóng mặt.

    Màn hình sáng lên, yêu cầu vân tay.

    Thử nhận diện khuôn mặt – tất nhiên là không được.

    Nhập mật khẩu – ngày sinh Đóa Đóa.

    Ngày sinh Trần Dao? Tôi không biết.

    Tôi nhìn hình nền khóa màn hình.

    Là ảnh selfie của một người phụ nữ, tóc dài, cười rất ngọt ngào.

    Trần Dao.

    Hình nền điện thoại của chồng tôi lại là một người đàn bà khác.

    Tôi không có thời gian để đau buồn.

    Tắt màn hình khóa, đặt điện thoại về chỗ cũ.

    Rồi quay lại phòng nhỏ.

    Dùng điện thoại của mình nhắn một tin cho công ty thám tử.

    “Tôi cần ngày sinh của Trần Dao.”

    Ba phút sau có tin nhắn trả lời: “Ngày 17 tháng 6.”

    Tôi đợi đến tối hôm sau, cùng một thời gian, cùng một cách thức.

    2 giờ 15 sáng, Lâm Thịnh chui ra hoạt động, lượn một vòng rồi chui vào lại.

    Tôi đợi nửa tiếng.

    Móc chiếc điện thoại đó ra.

    Nhập mật khẩu 0617.

    Mở khóa thành công.

    WeChat nằm ở vị trí đầu tiên.

    Cuộc trò chuyện được ghim lên đầu: “Anh Thịnh”.

    Tôi hít sâu một hơi, bấm mở.

    Lịch sử trò chuyện kéo dài từ tháng 9 năm ngoái đến tận hôm nay.

    Tin nhắn gần đây nhất là gửi hai tiếng trước –

    Trần Dao: Hôm nay anh bận à?

    Lâm Thịnh: Cũng tàm tạm, tối muộn mới ra được. Cô ta ngủ thì anh mới an toàn.

    Trần Dao: Bao giờ thì kết thúc chuyện này đây, em không muốn đợi nữa.

    Lâm Thịnh: Sắp rồi, luật sư bảo bằng chứng hòm hòm rồi, một hai tuần nữa là lật bài ngửa.

    Trần Dao: Thế còn căn nhà?

    Lâm Thịnh: Yên tâm, mẹ nhờ người lo vụ sổ đỏ rồi, chỉ cần phán quyết ly hôn có hiệu lực là sang tên ngay.

    Trần Dao: Thế còn đứa bé?

    Lâm Thịnh: Quyền nuôi con chắc chắn là của anh, cô ta lương tháng có tám nghìn, nuôi kiểu gì? Với lại mẹ đã liên hệ hai bác sĩ rồi, đến lúc đó cứ bảo tinh thần cô ta không ổn định.

    Trần Dao: Anh thông minh quá đi [Hôn hôn]

    Lâm Thịnh: Đều là chủ ý của mẹ, anh chỉ phụ trách thực thi thôi. Đợi ly hôn xong, chúng mình có thể đường hoàng ở bên nhau rồi.

    Tôi vuốt ngược lên từng tin nhắn.

    Càng đọc càng thấy lạnh người.

    Tin nhắn hồi tháng Mười Một.

    Trần Dao: Chị dâu là người thế nào?

    Lâm Thịnh: Tạm thôi, chỉ là quá nhạt nhẽo. Em thú vị hơn nhiều.

    Trần Dao: Thế sao anh vẫn sống chung?

    Lâm Thịnh: Tạm bợ thôi, vả lại tiền trả trước mua nhà nhà cô ta chịu phần lớn, anh không thể ly hôn bây giờ được.

    Trần Dao: Thế thì đợi lấy được nhà rồi tính [Cười trộm]

    “Chuyện đó không liên quan gì đến cháu nữa.”

    “Mợ biết. Chỉ là muốn báo cho cháu một tiếng thôi.” Bà mợ thở dài.

    “Hai hôm trước nó đến tìm mợ vay tiền, mợ không cho. Đàn ông đàn ang sức dài vai rộng mà làm đến nông nỗi này, thì đừng trách ai.”

    “Còn mẹ nó nữa, hết hạn án treo, cả người già đi chục tuổi. Trước đây ở cái hội của mợ, bà ấy lẻm mép lắm cơ mà, bây giờ ai thấy cũng né.”

    “Chuyện bỏ thuốc đồn ầm lên mà – hạ độc con dâu và cháu gái ruột, ai nghe xong mà chẳng sợ? Người không biết còn tưởng là đang xem phim truyền hình.”

     Tôi không nói gì.

    Tỏi

    “Tô Vãn, cháu làm đúng lắm.” Mợ vỗ vỗ tay tôi.

    “Ngày trước cháu gả vào, mợ đã nhìn ra rồi, Tú Lan có coi cháu ra con người đâu. Cháu nhịn được bảy năm là quá đủ rồi.”

    Đóa Đóa nhảy nhót chạy ra, nhào vào lòng tôi.

    “Mẹ ơi! Hôm nay con vẽ một bức tranh, cô giáo bảo sẽ dán lên tường đấy!”

    “Tranh gì thế con?”

    “Con vẽ nhà mới của mẹ con mình! Có ban công rộng ơi là rộng, còn có Pudding nữa.”

    Pudding là chú mèo nhà chúng tôi mới nuôi.

    “Về nhà mẹ làm đồ ăn ngon cho con nhé.”

    “Vâng ạ!”

    Tôi ôm con đi về phía xe.

    Đi ngang qua bảng thông báo trước cổng trường, trên đó dán một hàng tranh của các bạn nhỏ.

    Chủ đề là “Gia đình em”.

    Bức tranh của Đóa Đóa nằm ở tận cùng bên phải.

     Trong tranh có một ngôi nhà lớn, hai người đang nắm tay nhau đứng trước cửa.

    Một người lớn, một người nhỏ.

    Trống & Nhạc gõ

    Bên cạnh là bốn chữ viết nguệch ngoạc –

    “Mẹ và con”.

    Không có bố, không có tủ quần áo.

    Chỉ có hai mẹ con tôi, đứng dưới ánh mặt trời.

    Thế là quá tuyệt rồi.

    Ba năm sau.

    Doanh thu hàng năm của studio thiết kế Tô Vãn vượt mức 12 triệu tệ.

    Đội ngũ từ một người mở rộng lên mười bốn người.

    Khách hàng được phục vụ lên tới mười bảy thương hiệu.

    Một tạp chí trong ngành đã làm một bài phỏng vấn chuyên đề, tiêu đề là – “Từ mẹ bỉm sữa toàn thời gian đến Nhà thiết kế của năm”.

    Chỉ có một câu hỏi trong buổi phỏng vấn làm tôi khựng lại.

    “Cô Tô, điều gì đã khiến cô quyết định bắt đầu lại từ đầu?”

    Tôi suy nghĩ một lát.

    “Đã từng có người nhốt tôi vào một không gian rất nhỏ. Không phải không gian vật lý, mà là không gian tâm lý. Cho đến một ngày tôi phát hiện ra cánh cửa đó chưa từng bị khóa – chỉ là tự tôi cứ ngỡ mình không thể thoát ra mà thôi.”

    Kết thúc buổi phỏng vấn, tôi đến trường đón Đóa Đóa.

    Con bé đã tám tuổi, buộc tóc đuôi ngựa, chạy đến nhanh như một cơn gió.

    “Mẹ, hôm nay toán con được 100 điểm!”

    “Giỏi quá, thưởng cho con đi ăn lẩu.”

    “Thật không ạ? Thế con muốn gọi chả tôm!”

    Tôi nắm tay con bé, bước đi trong ánh hoàng hôn.

    Điện thoại vang lên một tiếng bíp.

    Là một tin nhắn từ số lạ.

    “Tô Vãn, anh là Lâm Thịnh. Nghe nói giờ em sống rất tốt, chúc mừng em. Anh chỉ muốn nói một câu, xin lỗi. Nếu như thời gian có thể quay lại–”

    Tôi nhìn tin nhắn đúng hai giây.

    Sau đó xóa đi.

    Đóa Đóa ngẩng đầu nhìn tôi.

    “Mẹ, ai nhắn thế ạ?”

    “Tin nhắn rác thôi.”

    “Vâng.”

    “Đi thôi, ăn lẩu nào.”

    “Vâng ạ!”

    Hoàng hôn kéo dài bóng của hai mẹ con tôi.

    Một lớn một nhỏ, rẽ qua góc phố rồi khuất dần.

  • Ở chung nhà với vợ chồng em ru/ột, tối nào cũng thấy em dâu vác chăn và gối sang phòng tôi xin n//gủ nhờ

    Ở chung nhà với vợ chồng em ru/ột, tối nào cũng thấy em dâu vác chăn và gối sang phòng tôi xin n//gủ nhờ

    Từ ngày vợ chồng em trai về ở chung trong căn nhà ống ba tầng, Nhã đêm nào cũng vác chăn gối sang phòng tôi. Không phải ngủ ghế, không phải nằm sát mép giường—mà xin nằm giữa tôi và chồng tôi. Những buổi đầu, tôi cười gượng, bảo “nằm đâu chẳng được em”, nhưng trong lòng thì gai. Đến đêm thứ năm, tôi hỏi thẳng: “Sao cứ phải giữa?” Nhã nhìn tôi, mắt có cái ửng như người vừa ăn ớt mà cố giấu: “Nằm giữa ấm hơn chị.” Rồi đem chuyện “ở quê em, con gái mới về nhà chồng sợ tối, phải nằm giữa người thân để… đỡ mơ.” Đến đêm thứ mười, mẹ tôi nghe hàng xóm rỉ rả “không tiện đâu”, tôi bảo Nhã qua nằm với mẹ, Nhã lắc: “Em ngáy, sợ mẹ khó ngủ.” Tôi muốn nói “chị cũng khó ngủ”, nhưng chồng tôi—Quân—đã giằng câu nói khỏi miệng bằng một cái gật: “Kệ đi, chật tí còn hơn để nó sợ.”

    Chật không chỉ vì ba người một giường. Chật còn vì những cái nhìn. Hàng xóm chẳng cần đứng ngoài ngõ vẫn biết nhà tôi “lắm chuyện”, bởi cầu thang nhà ống bé bằng bề vai và mỗi đêm mỗi lượt chăn gối đi qua đều quệt vào lan can kêu sột soạt. Mẹ chồng tôi—vẫn ở quê—gọi lên hỏi: “Các con thu xếp được chứ?” Tôi bảo được, dù trong lòng biết “được” là thứ dây chun đang căng.

    Nhã ít nói. Cái ít ấy lại có một kiểu dịu bớt cơn khó chịu của tôi: em dậy từ sáu giờ, chùi bếp, nấu nồi canh tập tàng, phơi đống áo quần tôi chưa kịp giặt; tối lại xắn váy trèo lên tầng ba phơi chăn. Nếu ai hỏi, tôi sẽ nói Nhã là kiểu em dâu “thảo”. Nhưng cái thảo không đủ giải thích cái việc mỗi đêm em gõ cửa—rất khẽ—ôm chăn đi thẳng vào, đặt gối xuống giữa, nằm nghiêm như một người canh mộ, giữa tôi và Quân.

    Đêm thứ mười bảy, tiếng “kịch” ấy đến. Không phải tiếng gió lật cánh cửa sổ—bởi cửa đã thít chặt bằng sợi dây tôi buộc riêng, phòng tránh bảng hiệu lắc. Cũng không phải tiếng thằn lằn rơi—bởi sau đó là một khoảng lặng kéo dài đến mức tôi nghe được tiếng đồng hồ tường nhích chân.

    Tôi dựa dậy, không bật đèn. Nhã nhúc nhích, bàn tay đang đặt trên bụng chuyển sang nắm lấy tay tôi, bóp rất nhẹ. Cái bóp ấy không dỗ, cũng không năn nỉ. Nó giống một lời nhắc: “Đừng làm động.”

    Tôi muốn hỏi “vì sao”, nhưng lời chạy đến cổ thì dừng. Lúc ấy, từ khe cửa, một vệt sáng mỏng như lưỡi dao cắt vào tường. Vệt sáng lướt một vòng rồi đứng lại ở chỗ cao nhất của bức tường đối diện giường. Tôi nín thở. Một thứ âm thanh khác chen vào đôi tai: “tạch.” Rất nhỏ, như tiếng móng tay gõ vào vỏ nhựa. Tôi quay sang Quân. Anh vẫn ngủ, hai tay gối đầu, thở đều. Nhã đột nhiên kéo chăn lên, khẽ dịch người lên cao, cái đầu của em trùng vào đúng cái đường sáng như vô tình che mất nó.

    Vệt sáng biến ngay.

    Chúng tôi nằm im như vậy cho đến khi tiếng gà điện tử của nhà bên kêu ụ tì ù. Tôi thiếp đi, và sáng ra, cái tiếng “kịch” chỉ còn là nếp nhăn nhỏ xíu trên trán tôi. Vừa đánh răng, tôi vừa hỏi: “Đêm qua, em có nghe gì không?” Nhã rửa bát, ngẩng lên: “Nghe chị xoay người.” Em mỉm cười, nhưng đuôi mắt không cười. Tôi định bảo “có đèn”, rồi lại thôi.

    Hôm ấy, nắng rót xuống như nước luộc bắp. Tuấn—em trai tôi—đi làm shipper, về đến nhà là vật ra ghế, ngủ bù. Nhã ngay ngắn đặt cho nó một bát canh, chờ nó dậy ăn, nhưng nó lỡ chuyến. Tôi nhìn Nhã cầm muôi gạt bọt, nghĩ đến cái vệt sáng, nghĩ đến thứ âm mỏng “tạch”. Cả ngày, cảm giác như có một cọng xương cá mắc giữa hai hàm răng.

    Đêm sau, Nhã vẫn gõ cửa, vẫn chui vào giữa. Quân cười: “Chắc nó nghiện nằm giường mềm.” Tôi cáu: “Trong nhà có ba cái giường.” Quân nhún vai: “Thì nằm đâu cũng được. Nó nằm giữa cho em đỡ được trách nhiệm ôm anh.” Tôi trừng mắt. Quân cười xòa, không đôi co.

    Đêm ấy, tôi không ngủ. Tôi đợi cái tiếng “kịch” mà trái tim tôi đã trông đợi như chờ cơn mưa sau nhiều hôm hanh héo. Quanh mười hai giờ, tiếng xe máy vèo một cái ngoài ngõ, bảng hiệu chớp một nhịp, tôi sắp nản thì “kịch” lại đến—đúng một tiếng—rồi “tạch”. Nhã siết tay tôi—lần này mạnh hơn—kéo chăn lên, ngồi như một vệt bóng, ngay lập tức nằm xuống lại như chẳng gì xảy ra. Tôi, vì thói quen của cái đầu muốn yên ổn, đã cắn môi nằm im thêm ba nhịp tim. Rồi tôi bật dậy, tay bật công tắc.

    Phòng sáng bừng. Quân dụi mắt, lầm bầm. Nhã vẫn nằm, mắt mở, bình tĩnh. Tôi nhìn khắp bốn phía. Cửa sổ đóng. Rèm kéo. Cửa ra vào cài then. Tường—trắng vàng theo kiểu tường nhà ống đã mấy năm chưa sơn—không có gì. “Có gì thế?” Quân hỏi. Tôi không trả lời. Tôi tiến đến bức tường đối diện giường—chỗ cái vệt sáng hôm qua đứng lại. Trên bức tường ấy, có một lỗ chấm li ti, nhỏ đến mức nếu không áp sát mặt, tôi sẽ không thấy. Nó nằm ngay bên cạnh ổ cắm, lẫn vào một vệt sơn lấm tấm. Tôi đưa mắt sát lại. Một chấm đen. Lạnh.

    “Em làm gì thế?” Quân bước xuống giường.

    Tôi đưa tay chạm, đầu ngón chạm một chút bột sơn bở. Tôi rợn tóc gáy như bị ai thổi một hơi gió vào tai. “Có lỗ.” Tôi nói khẽ. Quân cúi sát, nheo mắt. Lỗ ấy chắc bằng đầu kim, nhưng không phải lỗ nứt sơn ngẫu nhiên. Tôi cầm ốp điện thoại, lấy đầu nhọn, khảy nhẹ. Bột sơn rơi ra thêm một mảnh. Chấm đen rõ hơn.

    “Em đừng khảy.” Nhã nói, giọng không to không nhỏ. Tôi quay lại. Em nhìn chúng tôi, cái nhìn đều và thẳng, một kiểu nhìn đã chuẩn bị trước. “Đừng khảy. Mai khảy, người ta sẽ biết chúng ta biết.”

    Gió như dừng. Tôi nhìn Nhã như nhìn người khác. “Em biết?” Tôi hỏi.

    Nhã gật. Có một vệt mệt như bóng mắt tán bàng đổ xuống mặt sân chạy qua đôi mắt em: “Được hai tuần rồi. Em… chưa dám nói. Sợ chị hoảng.”

    Hai tuần? Tức là từ những đêm đầu—những đêm tôi cắn môi, những đêm tôi bực bội vì một cái chăn chẹt, vì một khoảng giữa không đáng có—Nhã đã biết điều tôi đêm nay mới nhìn ra: bức tường trong phòng tôi có một con mắt.

    “Người ta đặt khi nào?” Quân đứng sững.

    “Em không biết. Em nghe tiếng rất nhỏ—giống tiếng mình gõ móng tay lên vỏ nhựa. Đêm đầu, em nằm ngoài. Đến lúc thấy vệt sáng, em sợ—không phải cho em—mà cho chị. Em sang. Em nằm giữa để… che.” Nhã gỡ chăn khỏi người, ngồi thẳng lên, cái gáy em lộ ra một vệt đỏ mỏng. “Cái lỗ… nằm hơi lệch về phía chị. Nếu em ở giữa, góc nhìn sẽ bị che. Nếu lỡ… ai đó bật đèn bất ngờ, em có thể kéo chăn lên. Em không nói vì sợ chị không ngủ được. Em nghĩ nếu thu được hình thì mình phải có bằng chứng, phải biết nó nối đi đâu.”

    Tôi một lúc không thở. Cái muốn nói trong cổ tôi không phải câu “sao không nói sớm”, mà là một tiếng rơi. Rơi của những phán xét nhỏ bé tôi đã hì hục dựng lên nửa tháng nay.

    “Anh sẽ gọi chủ nhà.” Quân nói như dằn từng chữ.

    “Đừng.” Nhã lắc đầu, bàn tay ghì lấy mép chăn. “Gọi bây giờ, họ tháo đi, cãi. Mình không có gì. Ngày mai, anh mượn em cái điện thoại cũ, để ghi. Em với chị… bày bột talc trong khe chân tường. Nếu đêm nay có ai đi lại, có dấu.” Em nói, cái bình tĩnh lạ lùng, như đã diễn thử trong đầu. Tôi nhìn em—em dâu ít học hơn tôi, đi làm công nhân, chữ “talc” cũng chắc mới nghe ở đâu đó. Mà bây giờ em nói rành rọt, như đọc một bài thuộc. Có lẽ hai tuần qua, khi tôi bực vì chật giường, em bận học cách bảo vệ tôi.

    Chúng tôi tắt điện. Tôi không ngủ nữa. Trong đêm còn lại, tôi nghe Nhã thở, nghe Quân chuyển mình—ít hơn mọi khi. Sáng ra, tôi mượn điện thoại cũ của bạn, trút bớt ảnh, nhường cho chỗ trống. Quân đi xuống dưới, mua bột talc—với cái lý do “trị hăm cho con của anh bạn”, quay về, rắc một lớp mỏng sát chân tường chỗ ổ cắm. Tôi lấy băng dính trong suốt dán lên các mép phào chân tường như người ta dán mép giấy quà, để nếu có dịch chuyển sẽ nham nhở. Trưa, tôi vượt qua một buổi làm việc như người vừa đi qua đám khói: mắt cay, tay vẫn đánh chữ.

    Chiều, Tuấn về nhà sớm, mặt tái như vừa rúc khỏi phòng đông lạnh. “Có người đứng ở đầu hẻm hỏi nhà mình.” Nó bảo. Ai? “Người bán bảo hiểm.” Nó cười gượng. Nhã đặt tay lên lưng nó: “Anh ăn bát cháo.” Tuấn cúi ăn ngoan. Nhìn cặp vợ chồng trẻ bên kia bàn, tự dưng tôi muốn tổng cộng hết những câu tôi từng khó ở, rồi nhét vào túi rác.

    Đến tối, lặp lại. Nhã gõ cửa. Vào. Nằm giữa. Quân làm như không có gì xảy ra, nhưng tôi thấy bàn tay anh tìm tay tôi dưới chăn, bóp một cái như hứa. Mười hai giờ. Mười hai rưỡi. Một giờ. “Kịch.” Tim tôi nhảy lên cổ. “Tạch.” Tôi đặt chiếc điện thoại cũ trên tủ đầu giường, hướng camera về phía bức tường, để chế độ quay liên tục. Nhã kéo chăn lên ngang cổ, khẽ ngồi nhích lên, che đúng cái góc mà em biết.

    Hai phút. Năm phút. Mười phút. Tôi không biết “tạch” có còn nữa không hay tai tôi đã rát vì chờ đợi. Bỗng cánh cửa phòng rung một cái rất nhỏ—như ai đó thử tay nắm. Tôi bật dậy, nhưng Nhã chụp lấy tay tôi, lắc. “Im.” Lại một cái rung rất nhỏ. Rồi thôi. Tiếng chân chân trần ngoài đá cũ hành lang? Hay chỉ là gió? Tôi không biết.

    Sáng ra, Quân kiểm tra bột talc. Một vệt mờ như ai lướt qua. Mép băng dính dọc phào tường cong lên một góc bằng hạt gạo. Tôi lạnh sống lưng. Nhã thì thản nhiên: “Vậy là có đi.” Em lấy điện thoại cũ, tua lại. Một chấm sáng, thoắt hiện rồi tắt—đúng lúc chiếc bóng “đầu” của em trùm lên. Góc quay rung rất nhẹ trong ba giây—như thứ gì đó bị chạm. Và trong khoảnh khắc ấy, nếu phóng to hết cỡ, sẽ thấy ở mép trái khung hình một đường đen nhỏ như sợi tóc—có lẽ là mép của lỗ. “Không đủ.” Quân nói, thở dài. Nhã cười mỏng: “Đủ cho mình biết. Đêm nữa.”

    Tối thứ ba, Nhã không gõ cửa. Tôi giật mình mở, thấy em đứng sẵn, tay ôm chăn, mặt trắng bệch. “Sao thế?” Tôi thì thào. Em nhìn tôi, đặt bàn tay lên bụng—vẫn cái thói quen ấy—rồi như đổi ý, không trả lời, chui vội vào giữa. Đêm đó, trời bỗng mưa.

    Mưa in lên tường những đốm đen. Giữa mưa, “kịch” vẫn đến. “Tạch”. Và rồi—a, tôi nghe rõ—có tiếng thở. Rất nhỏ. Không phải của ai trong phòng. Không phải mưa. Một tiếng thở sát, sàn sạt, như người ta đưa lưỡi dao vào thử miếng gỗ.

    Tôi không chịu được nữa. Tôi bật đèn. Cùng lúc, có tiếng chân người chạy bên ngoài như lướt trên sàn gạch. Quân lao ra, mở cửa, chỉ kịp thấy bóng ai biến ở đầu thang. Tôi quay vào, tiến đến bức tường. Ống kính điện thoại (lần này là của tôi) áp sát. Ở chấm đen ấy, nếu tinh mắt, sẽ thấy một chấm chớp xanh—rất khẽ—như tín hiệu của một thứ gì đang chực.

    “Gọi công an.” Tôi nói.

    Quân gật. Nhưng gọi bằng gì đây? Gọi, họ cử người đến, “đối tượng” đã tháo đồ, chúng tôi lại là kẻ buộc người khác bằng tưởng tượng. Nhã lắc đầu: “Chưa đủ. Người ta sẽ phủi.” Rồi em quay sang tôi, giọng dịu bất ngờ: “Chị, giờ phải nhờ tất cả mọi người.” Em bước ra hành lang, gõ cửa phòng tầng trên, tầng dưới. Gõ mẹ chủ nhà. Gõ anh thợ làm công ở quán bún bên kia đường đang trọ tầng trệt. Vài phút sau, có đến bảy tám người trong phòng tôi. Ai đó kêu: “Cái gì thế?” Nhã đứng giữa, mắt đỏ: “Chúng ta đang bị nhìn lén. Em xin mọi người cùng chứng kiến, để nếu chúng em gọi công an, không ai bảo chúng em bịa.”

    Cái lỗ li ti bỗng thành vết thương trên bức tường. Bà chủ nhà, tóc xoăn, tay vòng sáu chiếc vòng lắc, cứng người: “Nhà tôi… không có ai làm như thế.” Nhã cúi chào: “Cô cho phép tụi con tháo cái ổ cắm ra ngay bây giờ, trước mặt mọi người. Nếu không có gì, tụi con xin lỗi cô.”

    Bà chủ đảo mắt, nhìn chồng—người đàn ông nhỏ, tròn, cái bụng hơi sa—rồi nhìn con trai bà đang đứng nép ở cửa. Cậu con trai ấy—khoảng hai mươi—cúi gằm. Tôi thấy cổ cậu ta giật nhẹ.

    Quân không đợi thêm. Anh cầm tua vít, tháo nắp ổ cắm. Mọi người nín thở. Ổ cắm rơi ra, từ phía sau, một thứ dây nhỏ như sợi gân bay ra rồi khựng lại. Đằng sau bức tường—giữa hai viên gạch—người ta khoét rỗng một khoảng nhỏ. Ở đó, có một miếng nhựa đen bằng hai đốt ngón tay, dính bằng băng dính giấy. Một chấm xanh hiện lên rồi tắt. Nếu ai đã từng xem ảnh những chiếc camera mini tầm thường trên mạng, sẽ nhận ra nó ngay. Tôi nghe một tiếng thở không còn sàn sạt nữa, mà vỡ: tiếng khóc của bà chủ nhà.

    “Thằng Hậu!” Bà hét, quay phắt lại phía con trai. “Mày làm cái gì hả mày!”

    Cậu con trai run. Nhã che bụng, bước lùi một bước. Tôi không nhìn cậu ta. Tôi nhìn bức tường, tưởng như nhìn thấy một con mắt vừa bị moi ra, nhỏ thôi mà nhức.

    Sau đó, mọi việc đi nhanh. Công an phường đến, lập biên bản. Những căn phòng khác được kiểm tra. Tầng một—phòng cô bé bán bún—không có. Tầng ba—phòng hai sinh viên—có một lỗ khác, chưa gắn gì. Trong điện thoại của cậu Hậu tìm thấy vài đoạn video tồi tệ đến mức tôi không dám nghe các chú công an đọc hết danh sách. Cậu ta quỳ dưới nền nhà, đầu chạm gạch, nước mắt nước mũi. Bà chủ nhà gào rồi lịm.

    Người ta hỏi tại sao chúng tôi phát hiện. Tôi nhìn Nhã. Em đứng thẳng, giọng bình lặng như một tờ giấy không kịp nhàu: “Em nghe tiếng.” “Sao em không báo ngay?” người cán bộ hỏi. “Em sợ bị đuổi khỏi nhà. Mấy bữa nay tụi em không tìm ra chỗ khác. Em… em cũng sợ chị dâu mất ngủ.” Tôi há miệng. Em dâu của tôi—người đêm nào cũng ôm chăn sang làm tôi khó chịu—sợ tôi mất ngủ? Tôi nhìn xuống. Hai bàn tay tôi, từng bóp chặt mép chăn vì khó chịu, bỗng thấy thừa.

    “Còn một chuyện nữa.” Nhã nói. Em đưa mắt nhìn mọi người, rồi đặt tay lên bụng—rất nhanh thôi, như một phản xạ—rồi hạ xuống ngay: “Em… có bầu. Mới bảy tuần. Em không dám nói sớm… sợ nhà mình lo.” Căn phòng im đến mức nghe được tiếng nước máy nhà hàng xóm chảy. Mẹ chủ nhà chực té. Tuấn—em trai tôi—lao vào, ôm lấy Nhã. Nó khóc. Tôi cũng không kìm được. Chúng tôi khóc, vừa vì nỗi kinh tởm với cái lỗ, vừa vì một mầm sống nhỏ xíu đang rung rinh ngay giữa cái ngôi nhà đầy mắt nấp kia mà chẳng ai dấu nổi hạnh phúc, và vì suốt hai tuần qua, em dâu tôi đã nằm giữa chúng tôi, không phải để “được ấm hơn” như em đã nói, mà để chắn, để che, để giữ cho cái bào thai trong bụng em và cho cả những phần đời riêng tư mỏng manh của chúng tôi khỏi bị móc đi.

    Sau chuyện đó, nhà chủ tự tháo hết các ổ cắm trong dãy, xin lỗi từng phòng, giảm tiền thuê, dọn dẹp lại một lượt. Cậu con trai bị đưa đi học nghề ở tỉnh khác, nghe nói bà ngoại cậu chữa bệnh nặng, nhà cần người trông. Chuyện pháp lý, cậu còn vị thành niên, người ta xử nhẹ hơn, nhưng phải viết giấy cam kết, bồi thường. Tôi vẫn sợ những lời “nhẹ hơn”, nhưng tôi hiểu ở đời nhiều thứ không như mình muốn. Ít nhất, những con mắt đã tắt.

    Đêm sau, khi mọi người về hết, Nhã khệ nệ ôm chăn gối đứng ở cửa phòng tôi. Tôi cười—một nụ cười mà chính tôi cũng không ngờ nó chảy ra nhẹ như nước mưa mới tạnh: “Vào đi. Nằm giữa.”

    Nhã đỏ mặt, lí nhí: “Thôi. Xong rồi. Em…” Em nhìn sang Tuấn, nó đứng ở cuối hành lang cười như đứa trẻ mới được bẻ kẹo. “Hai đứa vào phòng đi,” tôi trêu. “Đêm nay chị khó ngủ thừa ra.”

    Nhã không vào. Em đặt chăn gối trước mặt tôi, nghiêm trang: “Em cảm ơn chị.” Tôi lắc đầu, tự nhiên muốn ôm. Tôi ôm em. Bụng em—chưa có gì nhô lên—ấm hơn, mềm hơn tôi nghĩ.

    Quân đứng bên cửa sổ, nhìn sang bảng hiệu. “Anh nên xin lỗi.” Anh nói, tự nhiên. “Vì mấy hôm anh bảo em khó chịu quá. Hoá ra… nếu không khó chịu thế, mình không ai để ý.” Tôi cười. Trong cái cười có một ít muối.

    Đêm ấy, tôi ngủ với một cảm giác mới: cái giường vẫn chật—nhưng chật bởi những điều cần. Sớm hôm sau, tôi lên mạng đặt một chiếc đèn ngủ nhỏ có camera—cho tôi, không phải để nhìn ai—mà để tôi nhìn cái giường của mình, cái nhà của mình, theo một nghĩa khác: để nhìn xem, mình còn thiếu ai ôm, thiếu ai nói lời xin lỗi, thiếu ai nói lời cảm ơn.

    Một thời gian sau, nhà tôi chuyển. Không phải vì sợ, mà vì căn phòng mới có một cửa sổ đón nắng, và tôi muốn đứa bé trong bụng Nhã lớn lên trong ánh sáng. Hôm dọn đi, tôi tháo bức ảnh cưới cũ treo trên tường, đằng sau bức ảnh, không có gì—trơn như lưng một con cá. Tôi vuốt tay lên, nghe vôi sơn nhám, rồi bất giác rùng mình: có những thứ biến đi thì tốt; có những thứ biến đi để lại một lỗ trống mà cả đời còn sờ thấy.

    Tuấn bưng một thùng chén. Nó thở hổn hển. “Chị, tối mai mình ăn lẩu mừng nhà mới nhé.” Tôi gật. Nhã lật đật chắn bậc cầu thang cho tôi, sợ tôi trượt, dù người có bầu là em. Chúng tôi cười. Tất cả những thứ mỏi mệt, cáo kỉnh, chật chội của một căn nhà ống bỗng lùi lại như cái bóng tường vào buổi trưa.

    Đêm cuối ở nhà cũ, tôi thức. Không có tiếng “kịch”. Không có “tạch”. Chỉ có tiếng mưa chỗ mái tôn méo sát bên khe thoát nước thỉnh thoảng thở dài. Tôi mở đèn, nhìn hai chiếc gối đặt hai bên giường. Tôi bỗng bật cười, nhớ cái dáng Nhã ôm chăn, nép vào, nằm nghiêm như người canh mộ, giữa tôi và Quân. Nếu ai hỏi, sao lúc ấy tôi không đuổi thẳng ra, tôi sẽ nói: vì có những bức tường chỉ khi đứng từ giữa người khác, ta mới nhìn rõ lỗ kim đang khoan vào cuộc sống mình. Và cũng chỉ khi nằm giữa như thế, ta mới cảm được cái hơi ấm của người với người—cái hơi ấm đủ đẩy lùi một vệt sáng bé bằng hạt cát.

    Có một người hàng xóm đi qua, chào tôi, bảo: “Chuyển đi à cô?” Tôi gật. Bà ấy tặc lưỡi: “Nhà này nhiều chuyện lùm xùm.” Tôi muốn cãi, lại thôi. Tôi chỉ cười, nói câu tôi học được từ chính em dâu mình: “Vâng, nhưng bây giờ mọi chuyện êm rồi.”

    Bà hàng xóm khuất. Tôi quay vào. Quân kéo tôi lại, hỏi: “Nằm giữa không?” Tôi cốc đầu anh. “Hết thời rồi.” Anh cười, ôm. Tôi nhìn xuống cái thùng giấy đựng chăn gối—trong đó có cái gối màu hoa nhí Nhã đã đem qua bao đêm—tự dưng thấy mắt cay. Tôi rút cái gối ấy ra, đặt lên giường mới, ở nhà mới, ngay giữa. Không để ai nằm. Chỉ để nhắc rằng có những đêm, một người con gái bé nhỏ đã đặt điều ấm áp nhất của mình ở chỗ rét nhất, để che cho chúng tôi qua bão.

    Nhiều năm nữa, có thể tôi sẽ quên đường dây, quên loại camera, quên tiếng “tạch” nham nhở ấy. Nhưng tôi sẽ không quên cái bóp tay rất nhẹ giữa đêm đầu—cái bóp tay bảo tôi “đừng làm động”. Và chính nhờ không làm động đêm đó, chúng tôi mới động được nhiều thứ khác: động được một sự thật ẩn trong tường, động được lòng tin giữa đàn bà với nhau, và động được cả cách tôi nhìn em dâu—người mỗi tối ôm chăn sang, nằm giữa tôi và chồng tôi, để bảo vệ cái điều tôi quý mà không biết mình đang bị cướp.

    Câu chuyện, hoá ra, không chật như cái giường, mà rộng tới mức đủ chỗ cho một kết thúc bất ngờ: cái người tôi từng khó ở nhất chính là người đặt mình ở vị trí khó nhất để tôi được yên giấc. Và đêm tôi tỉnh giấc giữa đêm ấy—đêm tôi bực mình vì “lại nữa sao”—lại là đêm tôi học được bài học ấm nhất về ranh giới và yêu thương: đôi khi, để giữ yên cho nhau, người ta phải biết đứng vào giữa

  • Cả Nhà Chồng Đi Ăn Hải Sản Gọi Liền 28 Món, Đến Lúc Thanh Toán, Bà H. Chỉ Tay Vào Tôi Bảo: “Con Trả Đi!”…tôi lập tức bước ra quầy lễ tân nói 1 câu rồi rời đi khiến mẹ chồng x//ấu hổ!!

    Cả Nhà Chồng Đi Ăn Hải Sản Gọi Liền 28 Món, Đến Lúc Thanh Toán, Bà H. Chỉ Tay Vào Tôi Bảo: “Con Trả Đi!”…tôi lập tức bước ra quầy lễ tân nói 1 câu rồi rời đi khiến mẹ chồng x//ấu hổ!!!

    Tôi tên H., 27 tuổi, lấy chồng được gần một năm. Chồng tôi là T., hiền lành nhưng khá yếu thế mỗi khi đứng trước gia đình, đặc biệt là mẹ anh – bà H.. Nhà chồng tôi ở BD, còn tôi từ ĐN lên làm việc, là nhân viên văn phòng với mức lương đủ sống nhưng không dư dả.

    Hôm đó là chủ nhật, bà H. gọi điện bảo:

    “Chiều nay cả nhà đi ăn hải sản cho vui, con dâu mới về làm dâu phải hòa đồng nghe chưa!”

    Tôi nghĩ đơn giản chỉ là một bữa cơm gia đình, ai mời thì người đó thanh toán. T. cũng nhỏ giọng nói:

    “Em cứ đi cho mẹ vui, chắc ba mẹ trả thôi.”

    Đến một nhà hàng hải sản khá sang, bàn ăn có đủ ba chồng tôi – ông T., em chồng – V., chồng V. là H., cùng hai đứa cháu.

    Vừa ngồi xuống, bà H. cầm thực đơn gọi món như không cần nhìn giá:

    “Cho cô tôm hùm nướng phô mai, ốc hương rang muối, mực hấp gừng, cua sốt Singapore, hàu phô mai, sò huyết cháy tỏi…”

    Tôi hơi giật mình. Nhưng bà vẫn chưa dừng lại.

    Bà quay sang em chồng:

    “V., con thích món nào cứ gọi, ăn cho đã!”

    V. cười tươi:

    “Dạ cho con thêm lẩu hải sản, bạch tuộc nhúng giấm, tôm càng xanh nữa!”

    Tôi liếc sang T., anh chỉ cười gượng. Nhẩm sơ sơ thôi cũng đã 7-8 triệu.

    Điều khiến tôi số//c nhất là… họ gọi tới 28 món. Bàn ăn chật kín, nhiều món gần như không ai đụng tới, nhưng mọi người vẫn cười nói, cụng ly liên tục. Còn tôi chỉ ăn vài miếng, trong lòng ngày càng bất an.

    Đến lúc nhân viên mang hóa đơn ra, bà H. chẳng buồn liếc nhìn. Bà thong thả nhấp một ngụm trà rồi chỉ thẳng tay về phía tôi, giọng tỉnh bơ:

    “Con trả đi! Con dâu mới mà, coi như ra mắt nhà chồng.”

    Cả bàn ăn bỗng im phăng phắc.

    Tôi cứng người, tai như ù đi. Tôi nhìn sang T., mong anh sẽ lên tiếng. Nhưng anh chỉ cúi mặt. Em chồng V. thì khẽ nhếch môi, như thể đã chờ sẵn khoảnh khắc này.

    Ngay lúc ấy, tôi mới hiểu… bữa ăn này chưa bao giờ là để “cho vui” như tôi vẫn nghĩ…Tôi không nói gì mà đi đến quầy lễ tân nói to 1 câu khiến mẹ chồng x//ấu hổ…

    Tôi đứng dậy, cầm theo túi xách và chiếc hóa đơn dài dằng dặc từ tay cậu phục vụ. Gương mặt mẹ chồng tôi lúc đó lộ rõ vẻ đắc ý, còn cô em chồng thì khúc khích cười, tưởng rằng đã “bắt nạt” được đứa con dâu tỉnh lẻ này một vố đau đớn.

    Nhưng họ đã lầm. Tôi không phải là quả hồng mềm để ai muốn nắn thì nắn.

    Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người

    Tôi thản nhiên bước thẳng đến quầy lễ tân ngay giữa sảnh lớn – nơi có rất đông thực khách khác đang đứng xếp hàng chờ thanh toán và ra vào. Cố tình chọn vị trí trung tâm, tôi rút thẻ ngân hàng ra, nhìn thẳng vào cô thu ngân rồi nói dõng dạc, giọng vang lên rõ mồn một khắp cả khu vực sảnh:

    “Em ơi, bàn số 15 của chị hết tổng cộng bao nhiêu tiền? Chị chỉ thanh toán đúng phần của chị và chồng chị là 2 phần trên tổng số 8 người thôi nhé. Còn lại 6 người kia, em cứ vào tận bàn gặp bà mặc áo hoa đỏ đang ngồi chỉ tay kia để thu nốt. Bà ấy là mẹ chồng chị, vừa nãy bà ấy gọi món rất hoành tráng và bảo là bà ấy chủ trì bữa tiệc này mà!”

    Tiếng nói của tôi không quá gay gắt nhưng cực kỳ rõ ràng, tròn vành rõ chữ. Ngay lập tức, hàng chục ánh mắt của những thực khách xung quanh đổ dồn về phía bàn ăn của gia đình chồng tôi. Những tiếng xầm xì bắt đầu to nhỏ:

    “Ơ hay nhỉ, đi ăn cả nhà mà bắt con dâu gánh hết à?” “Nhìn sang chảnh thế kia mà đi ăn quỵt của con dâu mới cơ đấy!” “Thời buổi nào rồi còn cái kiểu hành hạ con dâu vô lý thế kia…”

    Mẹ chồng tôi – bà H. – vốn là người cực kỳ sĩ diện và ưa thể hiện với thiên hạ. Nghe thấy tôi nói to giữa bàn dân thiên hạ, lại thấy bao nhiêu ánh mắt ái ngại, khinh bỉ của những người xung quanh đang nhìn chằm chằm vào mình, mặt bà từ đắc ý bỗng chốc đỏ gay rồi chuyển sang tím tái vì nhục nhã.

    Bà vội vàng đứng bật dậy, định chạy ra mắng tôi, nhưng tôi đã nhanh tay quẹt thẻ thanh toán đúng 1/4 số tiền hóa đơn cho phần của tôi và T., rồi quay sang mỉm cười nhẹ nhàng với cô thu ngân:

    “Chị trả xong phần của vợ chồng chị rồi nhé. Cảm ơn em!”

    Nói rồi, tôi quay lưng đi thẳng ra cửa nhà hàng, không thèm ngoái đầu lại nhìn bàn ăn hỗn loạn phía sau. T. lật đật chạy theo giữ tay tôi lại, mặt mày tái mét, lắp bắp:

    “Em… em làm cái gì thế? Sao em lại làm mẹ xấu mặt trước bao nhiêu người như vậy? Có gì về nhà đóng cửa bảo nhau chứ!”

    Tôi gạt mạnh tay T. ra, nhìn anh bằng ánh mắt lạnh lùng chưa từng có:

    “Anh bảo tôi về nhà bảo nhau? Lúc mẹ anh chỉ tay bắt tôi gánh hóa đơn gần chục triệu cho cả nhà anh sĩ diện, sao anh không mở miệng ra ‘bảo nhau’ với mẹ anh đi? Anh im lặng nghĩa là anh đồng lõa để gia đình anh đào mỏ vợ mình. Tôi đi làm văn phòng chứ không phải đi làm mỏ đào tiền cho cả họ nhà anh tiêu xài hoang phí.”

    Tôi vẫy một chiếc taxi, dứt khoát bước lên xe và khóa cửa lại, để mặc T. đứng ngơ ngác giữa đường với hàng tá cuộc gọi nhỡ từ bà mẹ chồng đang phát điên ở trong nhà hàng vì phải tự móc hầu bao chi trả cho 28 món hải sản đắt đỏ.

    Bước đi này của tôi có thể sẽ khép lại cuộc hôn nhân với người chồng nhu nhược này, nhưng tôi không tiếc. Ít nhất, tôi đã cho họ hiểu một bài học: Con dâu nhà lành chứ không phải kẻ khờ để họ mang ra làm trò đùa tiêu khiển.